|
Theo chỉ tiêu
của Hội Tài nguyên Nước quốc tế, Việt Nam là
một trong những nước đă, đang và sẽ thiếu
nước trong tương lai gần. T́nh h́nh càng
nghiêm trọng do sự phân bố nước không đều
theo thời gian. Trong 6-7 tháng mùa khô,
ḍng chảy chỉ đạt 15%-30% tổng ḍng chảy năm,
nạn thiếu nước trở nên khá trầm trọng.
Nguy cơ các nhà
máy thủy điện không thể hoạt động hết công
suất, dẫn đến thiếu điện trên diện rộng tại
các tỉnh miền Bắc trong mùa khô năm nay hầu
như là chắc chắn.
Ngoài ra, do có
đến hai phần ba lượng nước các sông của Việt
Nam được sản sinh từ nước ngoài chảy vào,
nên việc đạt được những thỏa thuận hợp lư
với các nước bạn về sử dụng nước cũng hết
sức quan trọng.
Đây cũng là một
trong những vấn đề lớn có tính toàn cầu được
đặt ra tại Diễn đàn Nước quốc tế vừa được tổ
chức tại Mehico, mà theo các chuyên gia của
Quỹ Bảo tồn quốc tế về thiên nhiên - WWF,
vẫn c̣n quá ít giải pháp cụ thể được khẳng
định và cam kết thực hiện.
Tuy nhiên, thiếu nước không chỉ là một khó
khăn khách quan mà c̣n do sử dụng nguồn nước
không hợp lư. Tài nguyên nước ngầm của Việt
Nam khá dồi dào với tổng trữ lượng có khả
năng khai thác ước khoảng 60 tỷ m3 mỗi năm.
Mới chỉ 5% trữ lượng này được khai thác,
nhưng ở một số vùng, đặc biệt là tại thành
phố Hà Nội và đồng bằng sông Cửu Long, nước
ngầm lại bị khai thác quá mức và không đúng
cách, dẫn đến sụt giảm mực nước ngầm, góp
phần gây ra lún sụt đất, nhiễm mặn và các
dạng ô nhiễm khác.
“Lượng” đă vậy, chất lượng nước cũng đă đến
lúc cần cảnh báo. Nước ở hạ lưu các con sông
bị ô nhiễm khá rơ rệt, c̣n các hồ ao, kênh
mương trong các khu đô thị th́ đang trở
thành các bể chứa nước thải. Hầu hết nước
thải đô thị đều chưa được xử lư trước khi xả
ra môi trường và cũng chỉ có 4,26% nước thải
công nghiệp được xử lư đảm bảo tiêu chuẩn
môi trường.
Lấy ví dụ hệ thống sông Đồng Nai – Sài G̣n.
Trung b́nh mỗi ngày hệ thống sông này tiếp
nhận khoảng 111.600m3 nước thải từ các khu
công nghiệp, khu chế xuất của các tỉnh thuộc
vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, trong đó
chứa khoảng 15 tấn TSS, 77 tấn COD, 20 tấn
BOD5, 1,6 tấn nitơ và 500kg phốtpho.
Tổng số dân của 11
tỉnh thành trong lưu vực gần 17,5 triệu
người, mỗi ngày thải ra gần 100.000m3 nước
thải sinh hoạt (trong đó sông Sài G̣n tiếp
nhận trên 756.000m3), “đóng góp” trung b́nh
375 tấn TSS, 244 tấn BOD5, 456 tấn COD, 46
tấn dầu mỡ động thực vật cùng vô số loại vi
khuẩn và vi trùng gây bệnh khác.
Đó là chưa kể
việc khai thác, sử dụng nhiều cụm cảng nước
sâu phục vụ vận chuyển hàng hóa, kéo theo
hàng loạt vấn đề khác như xả dầu cặn, chất
thải có nguồn gốc dầu mỡ khoáng, chất thải
sinh hoạt và một nguy cơ rất lớn khác luôn
lơ lửng: sự cố tràn dầu.
Tuy ở mức độ ít
hơn, nhưng hoạt động nông – lâm – ngư nghiệp
cũng đặt ra rất nhiều vấn đề như axit hóa
nguồn nước (do việc khai thác cải tạo đất
phèn và sử dụng phân hóa học). Sông Sài G̣n
đoạn từ cầu B́nh Long đến Bến Than và B́nh
Mỹ, nhất là các điểm xung quanh ngă ba sông
Sài G̣n – Rạch Tra bị axit hóa rất nặng,
nhất là vào mùa khô, có khi độ pH lên tới
6,0...
Theo các chuyên gia Cục Quản lư Tài nguyên
nước, trong những năm tới, nếu không giải
quyết được những thách thức lớn về quản lư
nguồn nước, đa dạng hóa đầu tư cho cơ sở hạ
tầng ngành nước, tăng cường giám sát thực
thi pháp luật về môi trường và tăng cường sự
tham gia của người dân vào công cuộc bảo vệ
nguồn tài nguyên thiết yếu này, th́ nguy cơ
thiếu nước và nước ô nhiễm tại nước ta sẽ
trầm trọng hơn bao giờ hết.
Anh
Thư (Mạng
Báo SGGP) |