"Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố
vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao
quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản
xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên
nhiên." (Theo Điều 1, Luật Bảo vệ Môi trường của
Việt Nam).
Môi trường sống của con người theo chức năng được
chia thành các loại:
Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự
nhiên và xă hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất
của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không
khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xă
hội...
Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên
thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và
xă hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống
con người. Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà
trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường,
lớp học, sân chơi, pḥng thí nghiệm, vườn trường, tổ
chức xă hội như Đoàn, Đội với các điều lệ hay gia
đ́nh, họ tộc, làng xóm với những quy định không
thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công
nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với
luật pháp, nghị định, thông tư, quy định.
Tóm lại, môi trường là tất cả những ǵ có xung quanh
ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển.
Con người luôn cần một khoảng không gian dành cho
nhà ở, sản xuất lương thực và tái tạo môi trường.
Con người có thể gia tăng không gian sống cần thiết
cho ḿnh bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng
sử dụng của các loại không gian khác như khai hoang,
phá rừng, cải tạo các vùng đất và nước mới. Việc
khai thác quá mức không gian và các dạng tài nguyên
thiên nhiên có thể làm cho chất lượng không gian
sống mất đi khả năng tự phục hồi.
Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi
trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường,
đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các
hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho
môi trường, khai thác, sử dụng hợp lư và tiết kiệm
tài nguyên thiên nhiên.
Nhà nước bảo vệ lợi ích quốc gia về tài nguyên và
môi trường, thống nhất quản lư bảo vệ môi trường
trong cả nước, có chính sách đầu tư, bảo vệ môi
trường, có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc giáo
dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ, phổ
biến kiến thức khoa học và pháp luật về bảo vệ môi
trường. Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam ghi rơ
trong Điều 6: "Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của
toàn dân. Tổ chức, cá nhân phải có trách
nhiệm bảo vệ môi trường, thi hành pháp luật về bảo
vệ môi trường, có quyền và có trách nhiệm phát hiện,
tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi
trường".
"Khoa
học môi trường là ngành khoa học nghiên cứu mối quan
hệ và tương tác qua lại giữa con người và môi trường
xung quanh nhằm mục đích bảo vệ môi trường sống của
con người trên trái đất".
Môi trường là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành
khoa học như sinh học, địa học, hoá học, v.v... Tuy
nhiên, các ngành khoa học đó chỉ quan tâm đến một
phần hoặc một thành phần của môi trường theo nghĩa
hẹp mà không có một ngành khoa học nào đang có hiện
nay đủ điều kiện nghiên cứu và giải quyết mọi nhiệm
vụ của công tác bảo vệ môi trường là quản lư và bảo
vệ chất lượng các thành phần môi trường sống của con
người và sinh vật trên trái đất.
Như vậy, có thể xem khoa học môi trường là một ngành
khoa học độc lập, được xây dựng trên cơ sở tích hợp
các kiến thức của các ngành khoa học đă có cho một
đối tượng chung là môi trường sống bao quanh con
người với phương pháp và nội dung nghiên cứu cụ thể.
Phát triển kinh tế xă hội là quá tŕnh nâng cao điều
kiện sống về vật chất và tinh thần của con người qua
việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ
xă hội, nâng cao chất lượng văn hoá. Phát triển là
xu thế chung của từng cá nhân và cả loài người trong
quá tŕnh sống. Giữa môi trường và sự phát triển có
mối quan hệ hết sức chặt chẽ: môi trường là địa bàn
và đối tượng của sự phát triển, c̣n phát triển là
nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường.
Trong hệ thống kinh tế xă hội, hàng hoá được di
chuyển từ sản xuất, lưu thông, phân phối và tiêu
dùng cùng với ḍng luân chuyển của nguyên liệu, năng
lượng, sản phẩm, phế thải. Các thành phần đó luôn ở
trạng thái tương tác với các thành phần tự nhiên và
xă hội của hệ thống môi trường đang tồn tại trong
địa bàn đó. Khu vực giao nhau giữa hai hệ thống trên
là môi trường nhân tạo.
Tác động của hoạt động phát triển đến môi trường thể
hiện ở khía cạnh có lợi là cải tạo môi trường tự
nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho sự cải tạo
đó, nhưng có thể gây ra ô nhiễm môi trường tự nhiên
hoặc nhân tạo. Mặt khác, môi trường tự nhiên đồng
thời cũng tác động đến sự phát triển kinh tế xă hội
thông qua việc làm suy thoái nguồn tài nguyên đang
là đối tượng của hoạt động phát triển hoặc gây ra
thảm hoạ, thiên tai đối với các hoạt động kinh tế xă
hội trong khu vực.
Ở các quốc gia có tŕnh độ phát triển kinh tế khác
nhau có các xu hướng gây ô nhiễm môi trường khác
nhau. Ví dụ:
Môi trường là nơi con người khai thác nguồn vật liệu
và năng lượng cần thiết cho hoạt động sản xuất và
cuộc sống như đất, nước, không khí, khoáng sản và
các dạng năng lượng như gỗ, củi, nắng, gió,... Các
sản phẩm công, nông, lâm, ngư nghiệp và văn hoá, du
lịch của con người đều bắt nguồn từ các dạng vật
chất tồn tại trên trái đất và không gian bao quanh
trái đất.
Các nguồn năng lượng, vật liệu, thông tin sau mỗi
lần sử dụng được tuần hoàn quay trở lại dạng ban đầu
được gọi là tài nguyên tái tạo. Ví dụ như nước ngọt,
đất, sinh vật, v.v... là loại tài nguyên mà sau một
chu tŕnh sử dụng sẽ trở lại dạng ban đầu.
Trái lại, các nguồn năng lượng, vật liệu, thông tin
bị mất mát, biến đổi hoặc suy thoái không trở lại
dạng ban đầu th́ được gọi là tài nguyên không tái
tạo. Ví dụ như tài nguyên khoáng sản, gien di
truyền. Tài nguyên khoáng sản sau khi khai thác từ
mỏ, sẽ được chế biến thành các vật liệu của con
người, do đó sẽ cạn kiệt theo thời gian. Tài nguyên
gen di truyền của các loài sinh vật quư hiếm, có thể
mất đi cùng với sự khai thác quá mức và các thay đổi
về môi trường sống.
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, con người
ngày càng tăng cường khai thác các dạng tài nguyên
mới và gia tăng số lượng khai thác, tạo ra các dạng
sản phẩm mới có tác động mạnh mẽ tới chất lượng môi
trường sống.
Khủng hoảng môi trường là ǵ ?
Hiện nay, thế giới đang đứng trước 5 cuộc khủng
hoảng lớn là: dân số, lương thực, năng lượng, tài
nguyên và sinh thái. Năm cuộc khủng hoảng này đều
liên quan chặt chẽ với môi trường và làm cho chất
lượng cuộc sống của con người có nguy cơ suy giảm.
Nguyên nhân gây nên các cuộc khủng hoảng là do sự
bùng nổ dân số và các yếu tố phát sinh từ sự gia
tăng dân số. Do đó, xuất hiện một khái niệm mới là
khủng hoảng môi trường.
"Khủng
hoảng môi trường là các suy thoái về chất lượng môi
trường sống trên quy mô toàn cầu, đe doạ cuộc sống
của loài người trên trái đất".
Sau đây là những biểu hiện của khủng hoảng môi
trường:
"Công
nghệ môi trường là tổng hợp các biện pháp vật lư,
hoá học, sinh học nhằm ngăn ngừa và xử lư các chất
độc hại phát sinh từ quá tŕnh sản xuất và hoạt động
của con người. Công nghệ môi trường bao gồm các tri
thức dưới dạng nguyên lư, quy tŕnh và các thiết bị
kỹ thuật thực hiện nguyên lư và quy tŕnh đó".
Trong quá tŕnh phát triển kinh tế xă hội, con người
tác động vào tài nguyên, biến chúng thành các sản
phẩm cần thiết sử dụng trong hoạt động sống. Việc
này không tránh khỏi phải thải bỏ các chất độc hại
vào môi trường, làm cho môi trường ngày càng ô
nhiễm. Ở các các nước phát triển, vốn đầu tư cho
công nghệ xử lư chất thải chiếm từ 10 - 40% tổng vốn
đầu tư sản xuất. Việc đầu tư các công nghệ này tuy
cao nhưng vẫn nhỏ hơn kinh phí cần thiết khi cần
phục hồi môi trường đă bị ô nhiễm.
"Công
nghệ sạch là quy tŕnh công nghệ hoặc giải pháp kỹ
thuật không gây ô nhiễm môi trường, thải hoặc phát
ra ở mức thấp nhất chất gây ô nhiễm môi trường".
Có
thể áp dụng công nghệ sạch đối với các quy tŕnh sản
xuất trong bất kỳ ngành công nghiệp nào và bất kỳ
sản phẩm công nghiệp nào. Đối với các quá tŕnh sản
xuất, công nghệ sạch nhằm giảm thiểu các tác động
môi trường và an toàn của các sản phẩm trong suốt
chu tŕnh sống của sản phẩm, bảo toàn nguyên liệu,
nước, năng lượng, loại bỏ các nguyên liệu độc hại,
nguy hiểm, giảm độc tính của các khí thải, chất thải
ngay từ khâu đầu của quy tŕnh sản xuất.
"Sản
xuất sạch hơn là cải tiến liên tục quá tŕnh sản
xuất công nghiệp, sản phẩm và dịch vụ để giảm sử
dụng tài nguyên thiên nhiên, để pḥng ngừa tại nguồn
ô nhiễm không khí, nước và đất, và giảm phát sinh
chất thải tại nguồn, giảm thiểu rủi ro cho con người
và môi trường"
"Sự
cố môi trường là các tai biến hoặc rủi ro xảy ra
trong quá tŕnh hoạt động của con người hoặc biến
đổi bất thường của thiên nhiên, gây suy thoái môi
trường nghiêm trọng".
Sự
cố môi trường có thể xảy ra do:
Băo, lũ lụt,
hạn hán, nứt đất, động đất, trượt đất, sụt lở
đất, núi lửa phun, mưa axit, mưa đá, biến động
khí hậu và thiên tai khác;
Hoả hoạn,
cháy rừng, sự cố kỹ thuật gây nguy hại về môi
trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, công
tŕnh kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hoá, xă
hội, an ninh, quốc pḥng;
Sự cố trong
t́m kiếm, thăm đ̣, khai thác và vận chuyển
khoáng sản, dầu khí, sập hầm ḷ, phụt dầu, tràn
dầu, vỡ đường ống dẫn dầu, dẫn khí, đắm tàu, sự
cố tại cơ sở lọc hoá dầu và các cơ sở công
nghiệp khác;
Sự cố trong
ḷ phản ứng hạt nhân, nhà máy điện nguyên tử,
nhà máy sản xuất, tái chế nhiên liệu hạt nhân,
kho chứa chất phóng xạ.
"Ô
nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của
môi trường, vi phạm Tiêu chuẩn môi trường".
Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc
chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường
đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người,
đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất
lượng môi trường. Các tác nhân ô nhiễm bao gồm các
chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải),
rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật
lư, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ,
bức xạ.
Tuy nhiên, môi trường chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu
trong đó hàm lượng, nồng độ hoặc cường độ các tác
nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến
con người, sinh vật và vật liệu.
"Suy
thoái môi trường là sự làm thay đổi chất lượng và số
lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu
cho đời sống của con người và thiên nhiên".
Trong đó, thành phần môi trường được hiểu là các yếu
tố tạo thành môi trường: không khí, nước, đất, âm
thanh, ánh sáng, ḷng đất, núi, rừng, sông, hồ biển,
sinh vật, các hệ sinh thái, các khu dân cư, khu sản
xuất, khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên
nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và các
h́nh thái vật chất khác.
"Tiêu
chuẩn môi trường là những chuẩn mức, giới hạn cho
phép, được quy định dùng làm căn cứ để quản lư môi
trường".
V́
vậy, tiêu chuẩn môi trường có quan hệ mật thiết với
sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Hệ thống
tiêu chuẩn môi trường là một công tŕnh khoa học
liên ngành, nó phản ánh tŕnh độ khoa học, công
nghệ, tổ chức quản lư và tiềm lực kinh tế - xă hội
có tính đến dự báo phát triển. Cơ cấu của hệ thống
tiêu chuẩn môi trường bao gồm các nhóm chính sau:
Những quy
định chung.
Tiêu chuẩn
nước, bao gồm nước mặt nội địa, nước ngầm, nước
biển và ven biển, nước thải v.v...
Tiêu chuẩn
không khí, bao gồm khói bụi, khí thải (các chất
thải) v.v...
Tiêu chuẩn
liên quan đến bảo vệ đất canh tác, sử dụng phân
bón trong sản xuất nông nghiệp.
Tiêu chuẩn về
bảo vệ thực vật, sử dụng thuốc trừ sâu, diệt cỏ.
Tiêu chuẩn
liên quan đến bảo vệ các nguồn gen, động thực
vật, đa dạng sinh học.
Tiêu chuẩn
liên quan đến bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, các
di tích lịch sử, văn hoá.
Tiêu chuẩn
liên quan đến môi trường do các hoạt động khai
thác khoáng sản trong ḷng đất, ngoài biển
v.v...
Năm 1993, Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế (ISO) bắt đầu
xây dựng một bộ các tiêu chuẩn quốc tế về Quản lư
môi trường gọi là ISO 14000. Bộ tiêu chuẩn này gồm 3
nhóm chính:
"Đánh
giá tác động môi trường là quá tŕnh phân tích, đánh
giá, dự báo ảnh hưởng đến môi trường của các dự án
quy hoạch, phát triển kinh tế - xă hội, của các cơ
sở sản xuất, kinh doanh, công tŕnh kinh tế, khoa
học kỹ thuật, y tế, văn hoá, xă hội, an ninh, quốc
pḥng và các công tŕnh khác, đề xuất các giải pháp
thích hợp về bảo vệ môi trường".
Hoạt động phát triển kinh tế - xă hội ở đây có loại
mang tính kinh tế - xă hội của quốc gia, của một địa
phương lớn, hoặc một ngành kinh tế văn hóa quan
trọng (luật lệ, chính sách quốc gia, những chương
tŕnh quốc gia về phát triển kinh tế - xă hội, kế
hoạch quốc gia dài hạn), có loại mang tính kinh tế -
xă hội vi mô như đề án xây dựng công tŕnh xây dựng
cơ bản, quy hoạch phát triển, sơ đồ sử dụng một dạng
hoặc nhiều dạng tài nguyên thiên nhiên tại một địa
phương nhỏ. Tuy nhiên, một hoạt động có ư nghĩa vi
mô đối với cấp quốc gia, nhưng có thể có ư nghĩa vĩ
mô đối với xí nghiệp. Hoạt động vi mô nhưng được tổ
chức một cách phổ biến trên địa bàn rộng có khi lại
mang ư nghĩa vĩ mô.
Tác động đến môi trường có thể tốt hoặc xấu, có lợi
hoặc có hại nhưng việc đánh giá tác động môi trường
sẽ giúp những nhà ra quyết định chủ động lựa chọn
những phương án khả thi và tối ưu về kinh tế và kỹ
thuật trong bất cứ một kế hoạch phát triển kinh tế -
xă hội nào.
"Kinh
tế môi trường là công cụ kinh tế được sử dụng để
nghiên cứu môi trường và điều đó cũng có nghĩa là
trong tính toán kinh tế phải xét đến các vấn đề môi
trường".
Các vấn đề này nằm giữa kinh tế và các hệ tư nhiên
nên rất phức tạp, do đó có thể coi kinh tế môi
trường là một ngành phụ trung gian giữa các ngành
khoa học tự nhiên và khoa học xă hội. Những điểm cần
ghi nhớ khi xem xét kinh tế môi trường:
"An
ninh môi trường là trạng thái mà một hệ thống môi
trường có khả năng đảm bảo điều kiện sống an toàn
cho con người trong hệ thống đó".
Một hệ thống môi trường bị mất an ninh có thể do các
nguyên nhân tự nhiên (thiên tai) hoặc do các hoạt
động của con người (khai thác cạn kiệt tài nguyên
thiên nhiên, thải chất độc vào môi trường gây ô
nhiễm, suy thoái môi trường, suy giảm đa dạng sinh
học,...) hoặc phối hợp tác động của cả hai nguyên
nhân trên. Trạng thái an ninh của riêng phân hệ sinh
thái tự nhiên được gọi là an ninh sinh thái, do đó
an ninh sinh thái là một khía cạnh của an ninh môi
trường.
"Quan
trắc môi trường là việc theo dơi thường xuyên chất
lượng môi trường với các trọng tâm, trọng điểm hợp
lư nhằm phục vụ các hoạt động bảo vệ môi trường và
phát triển bền vững".
Trước khi thực hiện một dự án phát triển, người ta
thường phải chú ư đến sức ép môi trường. "Sức ép
môi trường là những khó khăn, trở ngại do môi trường
(tự nhiên, kinh tế, xă hội) tác động lên dự án phát
triển".
Sức ép môi trường là yếu tố nằm ngoài của dự án và
hoàn toàn không được mong đợi xảy ra khi triển khai
dự án. Có thể phân loại sức ép môi trường thành hai
loại như sau:
Sức ép môi
trường "nằm trong" khả năng khắc phục của
dự án. Ví dụ: Thiếu nước, thiếu mặt bằng xây
dựng, cơ chế hành chính của địa phương chưa phù
hợp, hạ tầng cơ sở chưa phát triển, ô nhiễm môi
trường điểm du lịch... Nếu tăng cường đầu tư và
hợp tác với địa phương sẽ giúp cho việc khắc
phục các sức ép này.
Sức ép môi
trường "nằm ngoài" khả năng khắc phục của
dự án. Ví dụ: Chế độ khí hậu thời tiết, tai biến
môi trường, điều kiện sinh thái độc hại, cơ cấu
điều hành của địa phương không hiệu quả... Với
loại sức ép này, tự thân khả năng của dự án
không thể khắc phục được, cần có một chương
tŕnh rộng lớn hơn hỗ trợ. Do đó, dự án cần phải
thích nghi, chịu đựng hoặc phải thay đổi.
Như vậy, có thể nhận thấy sự phân loại sức ép môi
trường phụ thuộc hoàn toàn vào năng lực, quy mô của
dự án. Một yếu tố môi trường có thể là sức ép môi
trường "nằm ngoài" khả năng khắc phục của dự án này
nhưng lại "nằm trong" trong khả năng khắc phục của
dự án khác có năng lực và quy mô lớn hơn. Phân loại
như vậy sẽ thuận lợi hơn trong việc đánh giá nhanh
tính khả thi của dự án và giúp cho việc t́m kiếm các
giải pháp hạn chế, khắc phục các sức ép môi trường
một cách hiệu quả nhất.
Con người sống trên Trái đất chủ yếu sử dụng không
khí, nước và thực phẩm để nuôi dưỡng cơ thể. Mỗi
người lớn một ngày hít vào 100 lít không khí và thở
ra lượng khí cacbonic cũng nhiều như vậy. Khí
cacbonic là khí thải, tụ lại nhiều một chỗ sẽ làm
vẩn đục không khí trong pḥng, gây khó chịu. Nếu
buổi tối đi ngủ đóng kín cửa pḥng, khí cacbonic sẽ
vẩn đục khắp pḥng. Bởi vậy buổi sáng ngủ dậy phải
mở cửa để không khí lưu thông, pḥng ở mới sạch.
Khi người ta ăn các thức ăc để bổ sung dinh dưỡng,
sẽ thải ra cặn bă. Chất cặn bă (phân và nước tiểu)
xuất hiện ở môi trường sinh hoạt nếu không được xử
lư tốt sẽ gây ô nhiễm môi trường, gây hại cho sức
khoẻ con người (như gây bệnh giun sán).
Trong quá tŕnh thay đổi tế bào trong cơ thể con
người thường toả ra nhiệt lượng và mùi vị. Mùi vị
của cơ thể mỗi người khác nhau, trong đó có một mùi
rất nặng kích thích hệ thần kinh khứu giác, đó là
mùi hôi nách. Đây cũng là một nguồn ô nhiễm của cơ
thể con người.
Trong sinh hoạt hàng ngày, cơ thể con người luôn
luôn toả nhiệt để điều tiết cân bằng nhiệt độ cơ
thể. Nhiệt lượng này toả ra môi trường xung quanh
nên chúng ta không thấy ảnh hưởng xấu của hiện tượng
này. Ví dụ trong một toa xe đóng kín cửa chật ních
người, nhiệt độ sẽ cao dần và những người bên trong
sẽ cảm thấy khó chịu, v́ nhiệt lượng toả ra từ cơ
thể người đă làm tăng nhiệt độ trong xe.
Cơ
thể chúng ta là một nguồn ô nhiễm. Nêu vấn đề này ra
có thể có một số người chưa nhận thức được. Nhưng
chúng ta sẽ phát hiện ra điều này khi tập trung một
số đông người trong một môi trường nhỏ hẹp. Bởi vậy,
chúng ta không những cần pḥng ngừa ô nhiễm công
nghiệp mà c̣n cần pḥng ngừa cơ thể gây ô nhiễm, ảnh
hưởng trực tiếp tới sức khoẻ chúng ta.
Có
thể nói rằng mọi vấn đề về môi trường đều bắt nguồn
từ phát triển. Nhưng con người cũng như tất cả mọi
sinh vật khác không thể đ́nh chỉ tiến hoá và ngừng
sự phát triển của ḿnh. Con đường để giải quyết mâu
thuẫn giữa môi trường và phát triển là phải chấp
nhận phát triển, nhưng giữ sao cho phát triển không
tác động một cách tiêu cực tới môi trường. Do đó,
năm 1987 Uỷ ban Môi trường và Phát triển của Liên
Hợp Quốc đă đưa ra khái niệm Phát triển bền vững:
"Phát
triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả măn các
nhu cầu hiện tại của con người nhưng không tổn hại
tới sự thoả măn các nhu cầu của thế hệ tương lai".
Để
xây dựng một xă hội phát triển bền vững, Chương
tŕnh Môi trường Liên Hợp Quốc đă đề ra 9 nguyên
tắc:
Tôn trọng và
quan tâm đến cuộc sống cộng đồng.
Cải thiện
chất lượng cuộc sống của con người.
Bảo vệ sức
sống và tính đa dạng của Trái đất.
Quản lư những
nguồn tài nguyên không tái tạo được.
Tôn trọng khả
năng chịu đựng được của Trái đất.
Thay đổi tập
tục và thói quen cá nhân.
Để cho các
cộng đồng tự quản lư môi trường của ḿnh.
Tạo ra một
khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho
việc phát triển và bảo vệ.
Năm 1991, đă xuất hiện khái niệm về Du lịch sinh
thái. "Du lịch sinh thái là loại h́nh du lịch diễn
ra trong các vùng có hệ sinh thái tự nhiên c̣n bảo
tồn khá tốt nhằm mục tiêu nghiên cứu, chiêm ngưỡng,
thưởng thức phong cảnh, động thực vật cũng như các
giá trị văn hoá hiện hữu" (Boo, 1991).
Nhưng gần đây, người ta cho rằng nội dung căn bản
của Du lịch sinh thái là tập trung vào mức độ
trách nhiệm của con người đối với môi
trường. Quan điểm thụ động cho rằng Du lịch sinh
thái là du lịch hạn chế tối đa các suy thoái môi
trường do du lịch tạo ra, là sự ngăn ngừa các tác
động tiêu cực lên sinh thái, văn hoá và thẩm mỹ.
Quan điểm chủ động cho rằng Du lịch sinh thái c̣n
phải đóng góp vào quản lư bền vững môi trường lănh
thổ du lịch và phải quan tâm đến quyền lợi của nhân
dân địa phương. Do đó, người ta đă đưa ra một khái
niệm mới tương đối đầy đủ hơn:
"Du
lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm với các khu
thiên nhiên là nơi bảo tồn môi trường và cải thiện
phúc lợi cho nhân dân địa phương".
"Du
lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại
của du khách và vùng dùng du lịch mà vẫn bảo đảm
những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ tương
lai".
Du
lịch bền vững đ̣i hỏi phải quản lư tất cả các dạng
tài nguyên theo cách nào đó để chúng ta có thể đáp
ứng các nhu cầu kinh tế, xă hội và thẩm mỹ trong khi
vẫn duy tŕ được bản sắc văn hoá, các quá tŕnh sinh
thái cơ bản, đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự
sống.
Khí quyển là lớp vỏ ngoài của trái đất với ranh giới
dưới là bề mặt thuỷ quyển, thạch quyển và ranh giới
trên là khoảng không giữa các hành tinh. Khí quyển
trái đất được h́nh thành do sự thoát hơi nước, các
chất khí từ thuỷ quyển và thạch quyển.
Thời kỳ đầu, khí quyển chủ yếu gồm hơi nước,
amoniac, metan, các loại khí trơ và hydro. Dưới tác
dụng phân huỷ của tia sáng mặt trời hơi nước bị phân
huỷ thành oxy và hydro. Oxy tạo ra tác động với
amoniac và metan tạo ra khí nitơ và cácboníc. Quá
tŕnh tiếp diễn, một lượng hidro nhẹ mất vào khoảng
không vũ trụ, khí quyển c̣n lại chủ yếu là hơi nước,
nitơ, cácboníc, một ít oxy. Thực vật xuất hiện trên
trái đất cùng với quá tŕnh quang hợp đă tạo nên một
lượng lớn oxy và làm giảm đáng kể nồng độ CO2
trong khí quyển. Sự phát triển mạnh mẽ của động thực
vật trên trái đất cùng với sự gia tăng bài tiết,
phân huỷ xác chết động thực vật, phân huỷ yếm khí
của vi sinh vật đă làm cho nồng độ khí N2
trong khí quyển tăng lên nhanh chóng, để đạt tới
thành phần khí quyển hiện nay.
Cấu trúc tầng của khí quyển được h́nh thành do kết
quả của lực hấp dẫn và nguồn phát sinh khí từ bề mặt
trái đất, có tác động to lớn trong việc bảo vệ và
duy tŕ sự sống trái đất.
Thành phần khí quyển trái đất khá ổn định theo
phương nằm ngang và phân dị theo phương thẳng đứng.
Phần lớn khối lượng 5.1015 tấn của toàn
bộ khí quyển tập trung ở tầng đối lưu và b́nh lưu.
Thành phần khí quyển trái đất gồm chủ yếu là Nitơ,
Oxy, hơi nước, CO2, H2, O3,
NH4, các khí trơ.
Trong tầng đối lưu, thành phần các chất khí chủ yếu
tương đối ổn định, nhưng nồng độ CO2 và
hơi nước dao động mạnh. Lượng hơi nước thay đổi theo
thời tiết khí hậu, từ 4% thể tích vào mùa nóng ẩm
tới 0,4 % khi mùa khô lạnh. Trong không khí tầng đối
lưu thường có một lượng nhất định khí SO2
và bụi.
Trong tầng b́nh lưu luôn tồn tại một quá tŕnh h́nh
thành và phá huỷ khí ozon, dẫn tới việc xuất hiện
một lớp ozon mỏng với chiều dày trong điều kiện mật
độ không khí b́nh thường khoảng vài chục xăngtimet.
Lớp khí này có tác dụng ngăn các tia tử ngoại chiếu
xuống bề mặt trái đất. Hiện nay, do hoạt động của
con người, lớp khí ozon có xu hưởng mỏng dần, có thể
đe doạ tới sự sống của con người và sinh vật trên
trái đất.
Nhiệt độ bề mặt trái đất được tạo nên do sự cân bằng
giữa năng lượng mặt trời đến bề mặt trái đất và năng
lượng bức xạ của trái đất vào khoảng không gian giữa
các hành tinh. Năng lượng mặt trời chủ yếu là các
tia sóng ngắn dễ dàng xuyên qua cửa sổ khí quyển.
Trong khi đó, bức xạ của trái đất với nhiệt độ bề
mặt trung b́nh +16oC là sóng dài có năng
lượng thấp, dễ dàng bị khí quyển giữ lại. Các tác
nhân gây ra sự hấp thụ bức xạ sóng dài trong khí
quyển là khí CO2, bụi, hơi nước, khí
mêtan, khí CFC v.v...
"Kết
quả của sự của sự trao đổi không cân bằng về năng
lượng giữa trái đất với không gian xung quanh, dẫn
đến sự gia tăng nhiệt độ của khí quyển trái đất.
Hiện tượng này diễn ra theo cơ chế tương tự như nhà
kính trồng cây và được gọi là Hiệu ứng nhà kính".
Sự
gia tăng tiêu thụ nhiên liệu hoá thạch của loài
người đang làm cho nồng độ khí CO2 của
khí quyển tăng lên. Sự gia tăng khí CO2
và các khí nhà kính kháctrong khí quyển
trái đất làm nhiệt độ trái đất tăng lên. Theo tính
toán của các nhà khoa học, khi nồng độ CO2
trong khí quyển tăng gấp đôi, th́ nhiệt độ bề mặt
trái đất tăng lên khoảng 3oC. Các số liệu
nghiên cứu cho thấy nhiệt độ trái đất đă tăng 0,5oC
trong khoảng thời gian từ 1885 đến 1940 do thay đổi
của nồng độ CO2 trong khí quyển từ 0,027%
đến 0,035%. Dự báo, nếu không có biện pháp khắc phục
hiệu ứng nhà kính, nhiệt độ trái đất sẽ tăng lên 1,5
- 4,5oC vào năm 2050.
Vai tṛ gây nên hiệu ứng nhà kính của các chất khí
được xếp theo thứ tự sau: CO2 => CFC =>
CH4 => O3 =>NO2. Sự
gia tăng nhiệt độ trái đất do hiệu ứng nhà kính có
tác động mạnh mẽ tới nhiều mặt của môi trường trái
đất.
"Biến
đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí
hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch
quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên
nhân tự nhiên và nhân tạo".
Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu trái đất là
do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải
khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể
hấp thụ và bể chứa khí nhà kính như sinh khối, rừng,
các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác.
Các biểu hiện của sự biến đổi khí hậu trái đất gồm:
Các quốc gia trên thế giới đă họp tại New York ngày
9/5/1992 và đă thông qua Công ước Khung về Biến đổi
khí hậu của Liên Hợp Quốc. Công ước này đặt ra mục
tiêu ổn định các nồng độ khí quyển ở mức có thể ngăn
ngừa được sự can thiệp của con người đối với hệ
thống khí hậu. Mức phải đạt nằm trong một khung thời
gian đủ để các hệ sinh thái thích nghi một cách tự
nhiên với sự thay đổi khí hậu, bảo đảm việc sản xuất
lương thực không bị đe doạ và tạo khả năng cho sự
phát triển kinh tế tiến triển một cách bền vững.
"Ô
nhiễm không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự
biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm
cho không khí không sạch hoặc gây ra sự toả mùi, có
mùi khó chịu, giảm tầm nh́n xa (do bụi)".
Có
rất nhiều nguồn gây ô nhiễm không khí. Có thể chia
ra thành nguồn tự nhiên và nguồn nhân tạo.
Nguồn gây ô nhiễm nhân tạo rất đa dạng, nhưng chủ
yếu là do hoạt động công nghiệp, đốt cháy nhiên liệu
hoá thạch và hoạt động của các phương tiện giao
thông. Nguồn ô nhiễm công nghiệp do hai quá tŕnh
sản xuất gây ra:
Các ngành công nghiệp chủ yếu gây ô nhiễm không khí
bao gồm: nhiệt điện; vật liệu xây dựng; hoá chất và
phân bón; dệt và giấy; luyện kim; thực phẩm; Các xí
nghiệp cơ khí; Các nhà máy thuộc ngành công nghiệp
nhẹ; Giao thông vận tải; bên cạnh đó phải kể đến
sinh hoạt của con người.
Sáu tác nhân ô nhiễm đầu sinh ra chủ yếu do quá
tŕnh đốt cháy nhiên liệu và sản xuất công nghiệp.
Các tác nhân ô nhiễm không khí có thể phân thành hai
dạng: dạng hơi khí và dạng phần tử nhỏ. Tuy nhiên,
phần lớn các tác nhân ô nhiễm đều gây tác hại đối
với sức khỏe con người.
Tác nhân ô nhiễm được chia làm hai loại: sơ cấp và
thứ cấp. Sunfua đioxit sinh ra do đốt cháy than đó
là tác nhân ô nhiễm sơ cấp. Nó tác động trực tiếp
tới bộ phận tiếp nhận. Sau đó, khí này lại liên kết
với ôxy và nước của không khí sạch để tạo thành axit
sunfuric (H2SO4) rơi xuống đất
cùng với nước mưa, làm thay đổi pH của đất và của
thuỷ vực, tác động xấu tới nhiều thực vật, động vật
và vi sinh vật. Như vậy, mưa axit là tác nhân ô
nhiễm thứ cấp được tạo thành do sự kết hợp SO2
với nước. Cũng có những trường hợp, các tác nhân
không gây ô nhiễm, liên kết quang hoá với nhau để
tạo thành tác nhân ô nhiễm thứ cấp mới, gây tác động
xấu. Cơ thể sinh vật phản ứng đối với các tác nhân ô
nhiễm phụ thuộc vào nồng độ ô nhiễm và thời gian tác
động.
Cơ
quan Bảo vệ môi trường của Mỹ biểu thị ô nhiễm không
khí bằng chỉ số chuẩn ô nhiễm (PSI), theo ngưỡng an
toàn và nguy hiểm đối với sức khoẻ của người. PSI là
một chỉ số thu được khi tính tới nhiều chỉ số ô
nhiễm, ví dụ tổng các hạt lơ lửng, SO2,CO,
O3, NO2 được tính theo
m g/m3/giờ
hoặc trong 1 ngày.
Các khí nhân tạo nguy hiểm nhất đối với sức khoẻ con
người và khí quyển trái đất đă được biết đến gồm:
Cacbon đioxit (CO2); Dioxit Sunfua (SO2).;
Cacbon monoxit (CO); Nitơ oxit (N2O);
Clorofluorocacbon (c̣n gọi là CFC) và Mêtan (CH4).
1. Cácbon đioxit (CO2):
CO2 với hàm lượng 0,03% trong khí quyển
là nguyên liệu cho quá tŕnh quang hợp để sản xuất
năng suất sinh học sơ cấp ở cây xanh. Thông thường,
lượng CO2 sản sinh một cách tự nhiên cân
bằng với lượng CO2 được sử dụng cho quang
hợp. Hai loại hoạt động của con người là đốt nhiên
liệu hoá thạch và phá rừng đă làm cho quá tŕnh trên
mất cân bằng, có tác động xấu tới khí hậu toàn cầu.
2. Đioxit Sunfua (SO2):
Đioxit sunfua (SO2) là chất gây ô nhiễm
không khí có nồng độ thấp trong khí quyển, tập trung
chủ yếu ở tầng đối lưu. Dioxit sunfua sinh ra do núi
lửa phun, do đốt nhiên liệu than, dầu, khí đốt, sinh
khối thực vật, quặng sunfua,.v.v... SO2
rất độc hại đối với sức khoẻ của người và sinh vật,
gây ra các bệnh về phổi khí phế quản. SO2
trong không khí khi gặp oxy và nước tạo thành axit,
tập trung trong nước mưa gây ra hiện tượng mưa axit.
3. Cacbon monoxit (CO):CO được h́nh thành do việc đốt cháy không hết
nhiên liệu hoá thạch như than, dầu và một số chất
hữu cơ khác. Khí thải từ các động cơ xe máy là nguồn
gây ô nhiễm CO chủ yếu ở các thành phố. Hàng năm
trên toàn cầu sản sinh khoảng 600 triệu tấn CO. CO
không độc với thực vật v́ cây xanh có thể chuyển hoá
CO => CO2 và sử dụng nó trong quá tŕnh
quang hợp. V́ vậy, thảm thực vật được xem là tác
nhân tự nhiên có tác dụng làm giảm ô nhiễm CO. Khi
con người ở trong không khí có nồng độ CO khoảng 250
ppm sẽ bị tử vong.
4. Nitơ oxit (N2O):
N2O là loại khí gây hiệu ứng nhà kính,
được sinh ra trong quá tŕnh đốt các nhiên liệu hoá
thạch. Hàm lượng của nó đang tăng dần trên phạm vi
toàn cầu, hàng năm khoảng từ 0,2 -,3%. Một lượng nhỏ
N2O khác xâm nhập vào khí quyển do kết
quả của quá tŕnh nitrat hoá các loại phân bón hữu
cơ và vô cơ. N2O xâm nhập vào không khí
sẽ không thay đổi dạng trong thời gian dài, chỉ khi
đạt tới những tầng trên của khí quyển nó mới tác
động một cách chậm chạp với nguyên tử oxy.
5.
Clorofluorocacbon(viết tắt là CFC): CFC
là những hoá chất do con người tổng hợp để sử dụng
trong nhiều ngành công nghiệp và từ đó xâm nhập vào
khí quyển. CFC 11 hoặc CFCl3 hoặc
CFCl2 hoặc CF2Cl2
(c̣n gọi là freon 12 hoặc F12) là những chất thông
dụng của CFC. Một lượng nhỏ CFC khác là CHC1F2
(hoặc F22), CCl4 và CF4 cũng xâm
nhập vào khí quyển. Cả hai hợp chất CFC 11 và CFC 12
hoặc freon đều là những hợp chất có ư nghĩa kinh tế
cao, việc sản xuất và sử dụng chúng đă tăng lên rất
nhanh trong hai thập kỷ vừa qua. Chúng tồn tại cả ở
dạng sol khí và không sol khí. Dạng sol khí thường
làm tổn hại tầng ôzôn, do đó là sự báo động về môi
trường, những dạng không sol khí th́ vẫn tiếp tục
sản xuất và ngày càng tăng về số lượng. CFC có tính
ổn định cao và không bị phân huỷ. Khi CFC đạt tới
thượng tầng khí quyển chúng sẽ được các tia cực tím
phân huỷ. Tốc độ phân huỷ CFC sẽ rất nhanh nếu tầng
ôzôn bị tổn thương và các bức xạ cực tím tới được
những tầng khí quyển thấp hơn.
6. Mêtan (CH4):
Mêtan là một loại khí gây hiệu ứng nhà kính. Nó được
sinh ra từ các quá tŕnh sinh học, như sự men hoá
đường ruột của động vật có guốc, cừu và những động
vật khác, sự phân giải kỵ khí ở đất ngập nước, ruộng
lúa, cháy rừng và đốt nhiên liệu hoá thạch. CH4
thúc đẩy sự ôxy hoá hơi nước ở tầng b́nh lưu. Sự gia
tăng hơi nước gây hiệu ứng nhà kính mạnh hơn nhiều
so với hiệu ứng trực tiếp của CH4. Hiện
nay hàng năm khí quyển thu nhận khoảng từ 400 đến
765x1012g CH4.
Khí Ozon gồm 3 nguyên tử oxy (03). Tầng
b́nh lưu nằm trên tầng đối lưu với ranh giới trên
dao động trong khoảng độ cao 50 km. Ở độ cao khoảng
25 km trong tầng b́nh lưu tồn tại một lớp không khí
giàu khí Ozon (O3) thường được gọi là
tầng Ozon. Hàm lượng khí Ozon trong không khí rất
thấp, chiếm một phần triệu, chỉ ở độ cao 25 - 30 km,
khí Ozon mới đậm đặc hơn (chiếm tỉ lệ 1/100.000
trong khí quyển). Người ta gọi tầng khí quyển ở độ
cao này là tầng Ozon.
Nếu tầng Ozon bị thủng, một lượng lớn tia tử ngoại
sẽ chiếu thẳng xuống Trái đất. Con người sống trên
Trái đất sẽ mắc bệnh ung thư da, thực vật không chịu
nổi nhiều tia tử ngoại chiếu vào sẽ bị mất dần khả
năng miễn dịch, các sinh vật dưới biển bị tổn thương
và chết dần. Bởi vậy các nước trên thế giới đều rất
lo sợ trước hiện tượng thủng tầng Ozon.
Tháng 10 năm 1985, các nhà khoa học Anh phát hiện
thấy tầng khí ozon trên không trung Nam cực xuất
hiện một "lỗ thủng" rất lớn, bằng diện tích nước Mỹ.
Năm 1987, các nhà khoa học Đức lại phát hiện tầng
khí ozon ở vùng trời Bắc cực có hiện tượng mỏng dần,
có nghĩa là chẳng bao lâu nữa tầng ozon ở Bắc cực
cũng sẽ bị thủng. Tin này nhanh chóng được truyền
khắp thế giới và làm chấn động dư luận.
Các nhà khoa học đều cho rằng, nguyên nhân này có
liên quan tới việc sản xuất và sử dụng tủ lạnh trên
thế giới. Sở dĩ tủ lạnh có thể làm lạnh và bảo quản
thực phẩm được lâu là v́ trong hệ thống ống dẫn khép
kín phía sau tủ lạnh có chứa loại dung dịch freon
thể lỏng (thường gọi là "gas"). Nhờ có dung dịch hoá
học này tủ lạnh mới làm lạnh được. Dung dịch freon
có thể bay hơi thành thể khí. Khi chuyển sang thể
khí, freon bốc thẳng lên tầng ozon trong khí quyển
Trái đất và phá vỡ kết cầu tầng này, làm giảm nồng
độ khí ozon.
Không những tủ lạnh, máy lạnh cần dùng đến freon mà
trong dung dịch giặt tẩy, b́nh cứu hoả cũng sử dụng
freon và các chất thuộc dạng freon. Trong quá tŕnh
sản xuất và sử dụng các hoá chất đó không tránh khỏi
thất thoát một lượng lớn hoát chất dạng freon bốc
hơi bay lên phá huỷ tầng ozon. Qua đó chúng ta thấy
rằng, tầng zon bị thủng chính là do các chất khí
thuộc dạng freon gây ra, các hoá chất đó không tự có
trong thiên nhiên mà do con người tạo ra. Rơ ràng,
con người là thủ phạm làm thủng tầng ozon, đe doạ
sức khoẻ của chính ḿnh,
Sớm ngừng sản xuất và sử dụng các hoá chất dạng
freon là biện pháp hữu hiệu nhất để cứu tầng ozon.
Nhiều hội thảo quốc tế đă bàn tính các biện pháp
khắc phục nguy cơ thủng rộng tầng ozon. 112 nước
thuộc khối Cộng đồng Châu Âu (EEC) đă nhất trí đến
cuối thế kỷ này sẽ chấm dứt sản xuất và sử dụng các
hoá chất thuộc dạng freon. V́ vậy các nhà khoa học
đang nghiên cứu sản xuất loại hoá chất khác thay thế
các hoá chất ở dạng freon, đồng thời sẽ chuyển giao
công nghệ sản xuất cho các nước đang phát triển. Có
như vậy, việc ngừng sản xuất freon mới trở thành
hiện thực. Muốn đạt được yêu cầu thiết thực này,
không chỉ riêng một vài nước mà cả thế giới đều phải
cố gắng th́ mới có thể bảo vệ được tầng ozon của
Trái đất.
Mưa axit được phát hiện ra đầu tiên năm 1948 tại
Thuỵ Điển. Nguyên nhân là v́ con người đốt nhiều
than đá, dầu mỏ. Trong than đá và dầu mỏ thường chứa
một lượng lưu huỳnh, c̣n trong không khí lại rất
nhiều khí nitơ. Trong quá tŕnh đốt có thể sinh ra
các khí Sunfua đioxit (SO2), Nitơ đioxit
(NO2). Các khí này hoà tan với hơi nước
trong không khí tạo thành các hạt axit sunfuaric (H2SO4),
axit nitơric (HNO3). Khi trời mưa, các
hạt axit này tan lẫn vào nước mưa, làm độ pH của
nước mưa giảm. Nếu nước mưa có độ pH dưới 5,6 được
gọi là mưa axit. Do có độ chua khá lớn, nước mưa có
thể hoà tan được một số bụi kim loại và ôxit kim
loại có trong không khí như ôxit ch́,... làm cho
nước mưa trở nên độc hơn đối với cây cối, vật nuôi
và con người.
Mưa axit ảnh hưởng xấu tới các thuỷ vực (ao, hồ).
Các ḍng chảy do mưa axit đổ vào hồ, ao sẽ làm độ pH
của hồ, ao giảm đi nhanh chóng, các sinh vật trong
hồ, ao suy yếu hoặc chết hoàn toàn. Hồ, ao trở thành
các thuỷ vực chết.
Mưa axit ảnh hưởng xấu tới đất do nước mưa ngầm
xuống đất làm tăng độ chua của đất, hoà tan các
nguyên tố trong đất cần thiết cho cây như canxi
(Ca), Magiê (Mg),... làm suy thoái đất, cây cối kém
phát triển. Lá cây gặp mưa axit sẽ bị "cháy" lấm
chấm, mầm sẽ chết khô, làm cho khả năng quang hợp
của cây giảm, cho năng suất thấp.
Mưa axit c̣n phá huỷ các vật liệu làm bằng kim loại
như sắt, đồng, kẽm,... làm giảm tuổi thọ các công
tŕnh xây dựng.
Xưa nay chúng ta thường nghe nói "không khí buổi sớm
trong lành nhất" và mọi người dân thành phố thường
tập luyện, chạy nhảy, hoạt động thể dục thể thao vào
sáng sớm hàng ngày. Nhưng gần đây, các nhà khoa học
lại cảnh tỉnh rằng ở những thành phố có ngành công
nghiệp và giao thông vận tải phát triển, không khí
buổi sớm không những trong lành mà c̣n bị ô nhiễm
rất nặng.
V́
sao các nhà khoa học lại đưa ra kết luận trái ngược
với nhận định lâu nay của nhiều người ?
Mức độ trong lành của không khí được quyết định bởi
thành phần các chất trong không khí, nhất là những
chất độc hại đối với cơ thể con người. Ban ngày, ánh
nắng mặt trời làm nhiệt độ không khí tăng cao, khói
thải của các nhà máy, xe cộ và bụi đất cát do các
loại xe cuốn lên bay lửng lơ trong không khí. Đến
khi mặt trời lặn, nhiệt độ không khí giảm dần. Qua
một đêm, mặt đất mát dần, nhiệt lượng toả vào không
trung cách mặt đất mấy trăm mét h́nh thành tầng
không khí trên nóng dưới lạnh, giống như chiếc nồi
áp xuống mặt đất. Lúc này khói thải của các nhà máy
không thể bốc lên cao để toả vào tầng mây mà chỉ
luẩn quẩn ở gần mặt đất với nồng độ mỗi lúc một đậm
đặc. Nếu lúc này trên mặt đất lặng gió, độ ô nhiễm
không khí sẽ càng tăng.
V́
thế, các nhà khoa học khuyên dân cư các thành phố
công nghiệp nên chuyển thời gian tập thể dục và rèn
luyện cơ thể từ sáng sớm sang khoảng 10 giờ sáng và
3 giờ chiều là thích hợp nhất.
V́ sao không khí
trong nhà cũng bị ô nhiễm?
Hiện nay nhiều gia đ́nh ở nước ta vẫn dùng than làm
chất đốt. Bếp than thải ra một lượng khí cacbonic
khá lớn, nhưng dù dùng bếp ga hoặc bếp dầu trong nhà
cũng không tránh được việc thải ra khí cacbonic.
Ngoài ra, trong quá tŕnh xào nấu thức ăn sẽ bốc ra
các hạt chất dầu mỡ làm ô nhiễm không khí trong bếp.
Mặt khác, điều kiện sống hiện nay ở các thành phố
c̣n chật chội, cơ thể con người luôn toả ra khí
cacbonic và mồ hôi, chưa kể những người hút thuốc lá
thải ra một lượng lớn khói thuốc làm ô nhiễm không
khí trong nhà ở. Những nơi ồn ào hoặc giá rét, người
ta lại thường đóng kín cửa sổ (để chống ồn và chống
rét) khiến các loại khí độc hại không thoát ra ngoài
được.
Những đồ dùng mới sử dụng trong các gia đ́nh như
thảm nilon, giấy dán tường, đồ nhựa, v.v...cũng đem
theo vào pḥng ở các chất ô nhiễm như toluen,
metylbenzen, formalđehyt,... Những hoá chất này đều
rất có hại đối với sức khỏe con người.
Nếu trong nhà có nuôi chó, mèo và trồng nhiều hoa,
cây cảnh sẽ làm tăng thêm lượng khí cacbonic và mùi
hôi trong pḥng ở. Bụi và các tạp chất khí kể trên
luôn bay lơ lửng trong không khí kèm theo các loại
vi trùng, dĩ nhiên sẽ ảnh hưởng không tốt tới sức
khỏe con người.
Muốn giải quyết vấn đề ô nhiễm không khí trong nhà
ở, cần mở nhiều cửa sổ thông khí, thường xuyên quét
dọn lau chùi nhà cửa, làm vệ sinh cá nhân đều đặn và
không nên nuôi động vật trong pḥng ở.
Vào mùa hè, khi đi từ thành phố về làng quê, ta cảm
thấy không khí ở hai vùng khác nhau rất rơ rệt.
Những người thường sống ở thôn quê cũng rất tự hào
về không khí trong lành nơi ḿnh cư trú. Các nhà
khoa học đă nghiên cứu và chỉ ra những khác nhau cơ
bản trong không khí hai vùng là:
Thứ nhất:
Không khí thành phố thường có nhiều vi khuẩn, vi
trùng gây bệnh hơn ở nông thôn, bởi v́ trong thành
phố mật độ dân cao, trao đổi hàng hoá nhiều, sản
xuất và xây dựng phát triển, tạo ra lượng rác lớn,
phân tán, khó thu gom kịp thời, gây ô nhiễm môi
trường. Người từ các vùng khác nhau qua lại nhiều,
mang mầm bệnh từ nhiều nơi đến. Không khí lưu thông
kém v́ vướng nhà cao tầng, cũng tạo cơ hội cho vi
trùng gây bệnh tập trung và tồn tại lâu hơn.
Ở nông thôn, mật độ dân, lưu lượng người và hàng hoá
qua lại đều thấp, nên chất thải ít, chủ yếu là chất
hữu cơ, một loại rác thải có thể dùng làm phân bón
ruộng. Nông thôn người thưa, nhiều cây xanh tạo cảm
giác tươi mát, dễ chịu, lại có khả năng tiết ra được
những chất kháng khuẩn thực vật, nên lượng vi trùng
gây bệnh trong không khí cũng ít hơn.
Thứ hai:
Nhiệt độ không khí thành phố cao hơn ở nông thôn,
c̣n độ ẩm lại thấp hơn. Vào mùa hè, nhiệt độ không
khí thành phố có thể cao hơn các vùng nông thôn từ 2
đến 60C, nhiệt độ tại những bề mặt phủ
gạch, bê tông cao hơn nhiệt độ không khí từ 5 đến 80C.
Đó là do ở thành phố không khí lưu thông kém, làm
giảm sự phân tán nhiệt. Nhiều xe máy, ô tô đi lại,
nhiều nhà máy, xí nghiệp sản xuất dùng ḷ đốt, thải
nhiều nhiệt vào không khí. Gạch, bê tông, đường nhựa
hấp thụ bức xạ mặt trời rất tốt, nóng lên và toả
nhiệt vào không khí. Mặt nước ao hồ lại ít, đất bị
phủ gạch, nhựa, bê tông không cho nước trong đất bốc
hơi, vừa không tiêu hao được nhiệt, vừa làm không
khí khô hơn.
Ở nông thôn, ngược lại, không khí không bị che chắn
nên lưu thông tốt hơn. Các nguồn thải nhiệt nhân tạo
như ở thành phố ít hơn nhiều. Cây cối lại nhiều, tạo
một lớp phủ tốt chắn không cho ánh sáng mặt trời
trực tiếp đốt nóng đất và c̣n tiêu thụ một phần năng
lượng mặt trời cho quang hợp. Mặt đất và mặt nước
đều bốc hơi tốt, tiêu thụ bớt năng lượng từ ánh nắng
mặt trời.
Thứ ba:
Không khí thành phố nhiều bụi bẩn hơn không khí nông
thôn do trong thành phố tập trung nhiều nhà máy xí
nghiệp, thải nhiều khói, bụi, khí độc. Việc xây
dựng, đào đất, chuyên chở vật liệu diễn ra thường
xuyên, rác thải không dọn kịp, là nguồn tạo ra bụi
bẩn đáng kể. Trên đường phố xe máy, ô tô thường
xuyên đi lại, nghiền vụn đất cát và cuốn bụi bay
lên. Không khí khô nóng, làm cho bụi lơ lửng nhiều
và lâu hơn. Bề mặt thành phố không bằng phẳng, nhiều
nhà cao thấp khác nhau, cũng dễ tạo các vùng gió
xoáy, cuốn bụi bay lên.
Thứ tư:
Trong thành phố, động cơ ô tô, xe máy, các hoạt động
sản xuất, buôn bán, giải trí tạo ra nhiều tiếng ồn.
Thành phố lại không có nhiều các dải cây xanh cản
tiếng ồn, mà chỉ có nhiều nhà xây, bê tông, làm cho
sóng âm dội đi, dội lại, hỗn độn và khó chịu hơn.
Thứ năm:
Không khí thành phố, nhất là những vùng công nghiệp
và giao thông phát triển, thường có chứa rất nhiều
khí độc hại như ôxit của lưu huỳnh, nitơ, cacbon,
ch́... Các chất này có tác động xấu tới sức khoẻ con
người và môi trường gây nên các bệnh phát sinh từ ô
nhiễm không khí.
Tóm lại, không khí thành phố thường bị ô nhiễm nặng
nề hơn nhiều so với không khí nông thôn, do đó không
có lợi cho tâm lư và sức khoẻ con người. Nhiều quốc
gia trên thế giới đă và đang đầu tư nhiều công sức
và tiền của cho việc nghiên cứu t́m ra những giải
pháp khắc phục hiện trạng ô nhiễm môi trường nặng nề
tại các thành phố lớn. Tuy nhiên vấn đề vẫn chưa thể
giải quyết ngay được. Những người đang sống trong
các thành phố, đô thị đông dân cần hiểu rơ những
nhược điểm của môi trường nơi đây, để tự có biện
pháp bảo vệ và tham gia vào sự nghiệp bảo vệ môi
trường chung của cả cộng đồng.
Đất là ǵ? Đất h́nh thành như thế nào?
"Đất
hay thổ nhưỡng là lớp ngoài cùng của thạch quyển bị
biến đổi tự nhiên dưới tác động tổng hợp của nước,
không khí, sinh vật".
Các thành phần chính của đất là chất khoáng, nước,
không khí, mùn và các loại sinh vật từ vi sinh vật
cho đến côn trùng, chân đốt v.v... Thành phần chính
của đất được tŕnh bày trong h́nh sau:
Đất có cấu trúc h́nh thái rất đặc trưng, xem xét một
phẫu diện đất có thể thấy sự phân tầng cấu trúc từ
trên xuống dưới như sau:
Mỗi một loại đất phát sinh trên mỗi loại đá, trong
điều kiện thời tiết và khí hậu tương tự nhau đều có
cùng một kiểu cấu trúc phẫu diện và độ dày.
Thành phần khoáng của đất bao gồm ba loại chính là
khoáng vô cơ, khoáng hữu cơ và chất hữu cơ. Khoáng
vô cơ là các mảnh khoáng vật hoặc đá vỡ vụn đă và
đang bị phân huỷ thành các khoáng vật thứ sinh. Chất
hữu cơ là xác chết của động thực vật đă và đang bị
phân huỷ bởi quần thể vi sinh vật trong đất. Khoáng
hữu cơ chủ yếu là muối humat do chất hữu cơ sau khi
phân huỷ tạo thành. Ngoài các loại trên, nước, không
khí, các sinh vật và keo sét tác động tương hỗ với
nhau tạo thành một hệ thống tương tác các ṿng tuần
hoàn của các nguyên tố dinh dưỡng nitơ, phôtpho,
v.v...
Các nguyên tố hoá học trong đất tồn tại dưới dạng
hợp chất vô cơ, hữu cơ có hàm lượng biến động và phụ
thuộc vào quá tŕnh h́nh thành đất. Thành phần hoá
học của đất và đá mẹ ở giai đoạn đầu của quá tŕnh
h́nh thành đất có quan hệ chặt chẽ với nhau. Về sau,
thành phần hoá học của đất phụ thuộc nhiều vào sự
phát triển của đất, các quá tŕnh hoá, lư, sinh học
trong đất và tác động của con người.
Sự
h́nh thành đất là một quá tŕnh lâu dài và phức tạp,
có thể chia các quá tŕnh h́nh thành đất thành ba
nhóm: Quá tŕnh phong hoá, quá tŕnh tích luỹ và
biến đổi chất hữu cơ trong đất, quá tŕnh di chuyển
khoáng chất và vật liệu hữu cơ trong đất. Tham gia
vào sự h́nh thành đất có các yếu tố: Đá gốc, sinh
vật, chế độ khí hậu, địa h́nh, thời gian. Các yếu tố
trên tương tác phức tạp với nhau tạo nên sự đa dạng
của các loại đất trên bề mặt thạch quyển. Bên cạnh
quá tŕnh h́nh thành đất, địa h́nh bề mặt trái đất
c̣n chịu sự tác động phức tạp của nhiều hiện tượng
tự nhiên khác như động đất, núi lửa, nâng cao và sụt
lún bề mặt, tác động của nước mưa, ḍng chảy, sóng
biển, gió, băng hà và hoạt động của con người.
Vi
sinh vật đất có nhiệm vụ phân giải xác động, thực
vật, tích luỹ chất dinh dưỡng từ môi trường xung
quanh. Động vật đất gồm giun đất, tiểu túc, nhuyễn
thể và động vật có xương tham gia tích cực vào quá
tŕnh phân huỷ xác động thực vật, đào xới đất, tạo
điều kiện cho không khí, nước và vi sinh vật thực
hiện quá tŕnh phân huỷ chất hữu cơ, giúp cho thực
vật bậc cao dễ dàng lấy được chất dinh dưỡng từ đất.
Đất là một dạng tài nguyên vật liệu của con người.
Đất có hai nghĩa: đất đai là nơi ở, xây dựng cơ sở
hạ tầng của con người và thổ nhưỡng là mặt bằng để
sản xuất nông lâm nghiệp.
Tài nguyên đất của thế giới theo thống kê như sau:
Tổng diện tích 14.777 triệu ha, với 1.527 triệu ha
đất đóng băng và 13.251 triệu ha đất không phủ băng.
Trong đó, 12% tổng diện tích là đất canh tác, 24% là
đồng cỏ, 32% là đất rừng và 32% là đất cư trú, đầm
lầy. Diện tích đất có khả năng canh tác là 3.200
triệu ha, hiện mới khai thác hơn 1.500 triệu ha. Tỷ
trọng đất đang canh tác trên đất có khả năng canh
tác ở các nước phát triển là 70%; ở các nước đang
phát triển là 36%.
Tài nguyên đất của thế giới hiện đang bị suy thoái
nghiêm trọng do xói ṃn, rửa trôi, bạc mầu, nhiễm
mặn, nhiễm phèn và ô nhiễm đất, biến đổi khí hậu.
Hiện nay 10% đất có tiềm năng nông nghiệp bị sa mạc
hoá.
Đất là một hệ sinh thái hoàn chỉnh nên thường bị ô
nhiễm bởi các hoạt động cuả con người. Ô nhiễm đất
có thể phân loại theo nguồn gốc phát sinh thành ô
nhiễm do chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt,
chất thải của các hoạt động nông nghiệp, ô nhiễm
nước và không khí từ các khu dân cư tập trung. Các
tác nhân gây ô nhiễm có thể phân loại thành tác nhân
hoá học, sinh học và vật lư.
"Độ
ph́ nhiêu của đất hay c̣n gọi là khả năng sản xuất
của đất là tổng hợp các điều kiện, các yếu tố để đảm
bảo cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt".
Do
đó, muốn tăng độ ph́ nhiêu của đất và thu được năng
suất cao, ổn định, cần phải tác động đồng thời các
yếu tố đối với đời sống cây trồng. Có thể dùng các
biện pháp như thuỷ lợi, kỹ thuật làm đất, phân bón,
chế độ canh tác,... để cải tạo đất.
Tuy nhiên, môi trường đất có những đặc thù và một số
tác nhân gây ô nhiễm có thể cùng một nguồn gốc nhưng
lại gây tác động bất lợi rất khác biệt. Do đó, người
ta c̣n phân loại ô nhiễm đất theo các tác nhân gây ô
nhiễm:
Chất ô nhiễm đến với đất qua nhiều đầu vào, nhưng
đầu ra th́ rất ít. Đầu vào có nhiều v́ chất ô nhiễm
có thể từ trên trời rơi xuống, từ nước chảy vào, do
con người trực tiếp "tặng" cho đất, mà cũng có thể
không mời mà đến.
Đầu ra rất ít v́ nhiều chất ô nhiễm sau khi thấm vào
đất sẽ lưu lại trong đó. Hiện tượng này khác xa với
hiện tượng ô nhiễm nước sông, ở đây chỉ cần chất ô
nhiễm ngừng xâm nhập th́ khả năng tự vận động của
không khí và nước sẽ nhanh chóng tống khứ chất ô
nhiễm ra khỏi chúng. Đất không có khả năng này, nếu
thành phần chất ô nhiễm quá nhiều, con người muốn
khử ô nhiễm cho đất sẽ gặp rất nhiều khó khăn và tốn
nhiều công sức.
Dân số trên trái đất tăng lên, đ̣i hỏi lượng lương
thực, thực phẩm ngày càng nhiều và con người phải áp
dụng những phương pháp để tăng mức sản xuất và cường
độ khai thác độ ph́ của đất. Những biện pháp phổ
biến nhất là:
Quá tŕnh phát triển công nghiệp và đô thị cũng ảnh
hưởng đến các tính chất vật lư và hoá học của đất.
Những tác động về vật lư như xói ṃn, nén chặt đất
và phá huỷ cấu trúc đất do các hoạt động xây dựng,
sản xuất và khai thác mỏ. Các chất thải rắn, lỏng và
khí đều có tác động đến đất. Các chất thải có thể
được tích luỹ trong đất trong thời gian dài gây ra
nguy cơ tiềm tàng đối với môi trường.
Người ta phân chia các chất thải gây ô nhiễm đất làm
4 nhóm: Chất thải xây dựng, chất thải kim loại, chất
thải khí, chất thải hoá học và hữu cơ.
"Hoang
mạc hoá là quá tŕnh suy thoái đất do những thay đổi
về khí hậu và do tác động của con người".
Hoang mạc hoá đặc biệt tác động mạnh đối với các
vùng đất khô hạn mà về mặt sinh thái đă bị suy yếu.
Hoang mạc hoá gây ra sự suy giảm về sản xuất lương
thực, sự nghèo đói. Hiện nay có tới 70% tổng số các
vùng đất khô hạn của thế giới (3,6 tỷ hecta) bị ảnh
hưởng do suy thoái.
Để
ngăn chặn nạn hoang mạc hoá, việc sử dụng đất, bao
gồm cả vấn đề trồng trọt và chăn thả, phải được tiến
hành một cách đúng đắn về mặt môi trường, có thể
chấp nhận được về mặt xă hội và có tính khả thi. Một
trong những công cụ chống hoang mạc hoá là việc
trồng cây cối và các loài thực vật khác để có thể
giữ nước và duy tŕ được chất lượng đất. Đấu tranh
với hoang mạc hoá, các Chính phủ phải:
Theo Công ước RAMSAR th́ "Đất ngập nước bao gồm:
những vùng đầm lầy, đầm lầy than bùn, những vực nước
bất kể là tự nhiên hay nhân tạo, những vùng ngập
nước tạm thời hay thường xuyên, những vực nước đứng
hay chảy, là nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, kể cả
những vực nước biển có độ sâu không quá 6m khi triều
thấp".
Dù
rộng hay hẹp, vai tṛ của các vùng đất ngập nước hầu
như đều giống nhau, đó là cung cấp cho con người
nhiên liệu, thức ăn, là nơi giải trí, là nơi lưu trữ
các nguồn gen quư hiếm. Đất ngập nước là những hệ
sinh thái có năng suất cao, cung cấp cho con người
gần 2/3 sản lượng đánh bắt cá, là nơi cung cấp lúa
gạo nuôi sống gần 3 tỷ người. Đất ngập nước cũng
đóng một vai tṛ quan trọng trong sự sống c̣n của
các loài chim.
Để
bảo tồn các vùng đất ngập nước, năm 1971, Công ước
RAMSAR đă ra đời (Iran). Đây là công ước quốc tế về
bảo tồn sớm nhất thế giới, nhiều thành quả quan
trọng về việc bảo tồn các vùng đất ngập nước đă được
ghi nhận. RAMSAR bắt buộc 92 nước thành viên của
ḿnh phân khu và bảo vệ các vùng đất ngập nước có
tầm quan trọng quốc tế và thúc đẩy việc "sử dụng hợp
lư" các vùng này. Mới đây, gần 800 khu đă được đưa
vào danh sách bảo tồn.
Vùng đất ngập nước lớn nhất của Việt Nam là châu thổ
sông Cửu Long bao gồm hệ thống sông, ng̣i, kênh,
rạch chằng chịt, những cánh đồng lúa bát ngát, rừng
ngập mặn, rừng tràm, các băi triều, ao nuôi tôm, cá.
Ở miền Trung, các vùng đất ngập nước là các đầm phá
ven biển, các hồ chứa nước nhân tạo. Ở miền Bắc, đất
ngập nước là các hồ trong hệ thống lưu vực sông
Hồng, những băi triều rộng lớn, những cánh rừng ngập
mặn của châu thổ. Tổng diện tích đất ngập nước của
Việt Nam ước tính khoảng 7 triệu đến 10 triệu hécta.
Phần lớn thóc, gạo, cá, tôm và các loại lương thực,
thực phẩm khác đều được sản xuất từ những vùng đất
ngập nước, đặc biệt và từ châu thổ sông Hồng ở phía
Bắc và châu thổ sông Cửu Long ở phía Nam. Ngoài vai
tṛ sản xuất nông nghiệp và thuỷ sản, đất ngập nước
c̣n đóng vai tṛ quan trọng trong thiên nhiên và môi
trường như lọc nước thải, điều hoà ḍng chảy (giảm
lũ lụt và hạn hán), điều hoà khí hậu địa phương,
chống xói lở bờ biển, ổn định mức nước ngầm cho
những vùng sản xuất nông nghiệp, tích luỹ nước ngầm,
là nơi trú chân của nhiều loài chim di cư quư hiếm,
là nơi giải trí, du lịch rất giá trị cho người dân
Việt Nam cũng như khách nước ngoài. Về lâu dài, các
vùng đất ngập nước của Việt Nam đă và đang đóng vai
tṛ quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế và
xă hội.
"Tai
biến địa chất là các hiện tượng tự nhiên tham gia
tích cực vào quá tŕnh biến đổi địa h́nh bề mặt
thạch quyển".
Tai biến địa chất là một dạng tai biến môi trường
phát sinh trong thạch quyển. Các dạng tai biến địa
chất chủ yếu gồm núi lửa phun, động đất, nứt đất,
lún đất, trượt lở đất. Chúng liên quan tới các quá
tŕnh địa chất xảy ra bên trong ḷng trái đất.
Nguyên nhân chính là do lớp vỏ trái đất hoàn toàn
không đồng nhất về thành phần và chiều dày, có những
khu vực vỏ trái đất mỏng manh hoặc các hệ thống đứt
găy chia cắt vỏ trái đất thành những khối, mảng nhỏ.
Do vậy, lớp vỏ trái đất trong thực tế luôn chuyển
động theo chiều đứng cũng như chiều ngang.
Tại các khu vực vỏ trái đất có kết cấu yếu, ḍng
nhiệt xuất phát từ mantia dưới dạng đất đá nóng chảy
(dung nham) hoặc khói, hơi nước: chảy theo độ dốc
địa h́nh kéo theo các tác động huỷ diệt đối với con
người và môi trường sống. Những điểm xuất hiện sự
phun trào đất đá nóng chảy hoặc bụi, hơi nước được
gọi là núi lửa. Các vùng như vậy phân bố có quy luật
trên trái đất tạo thành đai núi lửa. Hai đai núi lửa
nổi tiếng được biết trên trái đất là đai núi lửa Địa
Trung Hải và đai núi lửa Thái B́nh Dương. Sự phun
trào dung nham hoặc sự dịch chuyển của các khối đất
đá trong vỏ trái đất thông thường xảy ra một cách từ
từ nhưng đôi khi cũng xảy ra một cách đột ngột, tạo
nên hiện tượng động đất có mức độ phá hoại mạnh. Các
hoạt động của con người như khai thác khoáng sản
trong ḷng đất, xây dựng các hồ chứa nước lớn đôi
khi cũng gây ra động đất kích thích và các khe nứt
nhân tạo.
Trên bề mặt trái đất, hoạt động của nước và gió gây
ra sự xói ṃn. Xói ṃn do nước mưa là dạng xói ṃn
phổ biến nhất. Ở Việt Nam, hàng năm lượng đất xói
ṃn do mưa trên một hecta đất vùng núi và trung du
có tới vài trăm tấn. Xói ṃn do gió thường gặp ở
những nơi gió có tốc độ thường xuyên lớn, trong các
vùng lớp phủ thực vật kém phát triển.
Trượt lở đất là một dạng biến đổi bề mặt trái đất
khác. Tại đây, một khối lượng đất đá khác theo các
bề mặt đặc biệt bị trọng lực kéo trượt xuống các địa
h́nh thấp. Bề mặt trượt có thể là các bề mặt khe nứt
hoặc các lớp đất đá có tính chất cơ lư yếu như đất
sét thấm nước. Hiện tượng trượt lở đất thường xuất
hiện một cách tự nhiên trong các vùng núi vào thời
kỳ mưa nhiều hàng năm. Các hoạt động như mở đường,
khai thác khoáng sản đang làm xuất hiện tác nhân
trượt lở đất nhân tạo. Một số hiện tượng tự nhiên
khác như sóng biển, thay đổi ḍng chảy của các ḍng
sông cũng tạo nên sự trượt lở đất.
Thuỷ quyển là lớp vỏ lỏng không liên tục bao quanh
trái đất gồm nước ngọt, nước mặn ở cả ba trạng thái
cứng, lỏng và hơi. Thuỷ quyển bao gồm đại dương,
biển, ao hồ, sông ng̣i, nước ngầm và băng tuyết.
Khối lượng của thuỷ quyển khoảng 1,4.1018
tấn. Trong đó đại dương có khối lượng chiếm 97,4%
toàn bộ thuỷ quyển. Phần c̣n lại là băng trên núi
cao và hai cực trái đất chiếm 1,98%, nước ngầm chiếm
0,6%; ao, hồ, sông, suối, hơi nước chỉ chiếm 0,02%.
Ranh giới trên của thuỷ quyển là mặt nước của các
đại dương, ao, hồ. Ranh giới dưới của thuỷ quyển khá
phức tạp, từ các đáy đại dương có độ sâu hàng chục
km, vài chục mét ở các thấu kính nước ngầm cho đến
vài chục cm ở các vùng đất ngập nước. Theo diện tích
che phủ, thuỷ quyển chiếm 70,8% hay 361 triệu km2
bề mặt trái đất với độ sâu trung b́nh 3.800m. Thuỷ
quyển phân bố không đều trên bề mặt trái đất, ở nam
bán cầu là 80,9%, ở bắc bán cầu là 60,7%.
Đại dương chiếm phần quan trọng của trái đất, gồm có
Thái B́nh Dương, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương và Bắc
Băng Dương. Trong các đại dương, người ta lại chia
ra các vùng biển có diện tích nhỏ hơn như biển Ban
Tích, biển Bắc, biển Đông, biển Nam Trung Hoa v.v...
Tuy nhiên, có một số biển không có liên hệ với đại
dương như biển Caxpi, biển Aran được gọi là biển hồ.
Một số phần đại dương hoặc biển ăn sâu vào đất liền
được gọi là vịnh như vịnh Thái Lan hoặc vịnh Bắc Bộ.
Nước là tài nguyên vật liệu quan trọng nhất của loài
người và sinh vật trên trái đất. Con người mỗi ngày
cần 250 lít nước cho sinh hoạt, 1.500 lít nước cho
hoạt động công nghiệp và 2.000 lít cho hoạt động
nông nghiệp. Nước chiếm 99% trọng lượng sinh vật
sống trong môi trường nước và 44% trọng lượng cơ thể
con người. Để sản xuất 1 tấn giấy cần 250 tấn nước,
1 tấn đạm cần 600 tấn nước và 1 tấn chất bột cần
1.000 tấn nước.
Ngoài chức năng tham gia vào chu tŕnh sống trên,
nước c̣n là chất mang năng lượng (hải triều, thuỷ
năng), chất mang vật liệu và tác nhân điều hoà khí
hậu, thực hiện các chu tŕnh tuần hoàn vật chất
trong tự nhiên. Có thể nói sự sống của con người và
mọi sinh vật trên trái đất phụ thuộc vào nước.
Tài nguyên nước ở trên thế giới theo tính toán hiện
nay là 1,39 tỷ km3, tập trung trong thuỷ
quyển 97,2% (1,35 tỷ km3), c̣n lại trong
khí quyển và thạch quyển. 94% lượng nước là nước
mặn, 2% là nước ngọt tập trung trong băng ở hai cực,
0,6% là nước ngầm, c̣n lại là nước sông và hồ. Lượng
nước trong khí quyển khoảng 0,001%, trong sinh quyển
0,002%, trong sông suối 0,00007% tổng lượng nước
trên trái đất. Lượng nước ngọt con người sử dụng
xuất phát từ nước mưa (lượng mưa trên trái đất
105.000km3/năm. Lượng nước con người sử
dụng trong một năm khoảng 35.000 km3,
trong đó 8% cho sinh hoạt, 23% cho công nghiệp và
63% cho hoạt động nông nghiệp).
Nước phân bố không đều trên bề mặt trái đất. Lượng
mưa ở sa mạc dưới 100mm/năm, trong khi ở nhiều vùng
nhiệt đới (Ấn Độ) có thể đạt 5000mm/năm. Do vậy, có
nơi thiếu nước, hạn hán, trong khi nhiều vùng mưa
lụt thường xuyên. Nhiều nước Trung Đông phải xây
dựng nhà máy để cất nước ngọt hoặc mua nước ngọt từ
quốc gia khác. Các biến đổi khí hậu do con người gây
ra đang làm trầm trọng thêm sự phân bố không đều tài
nguyên nước trên trái đất.
Các tác nhân gây ô nhiễm nước có thể chia ra làm
nhiều loại: Kim loại nặng (As, Pb, Cr, Sb, cd, Hg,
Mo, Al, Cu, Zn, Fe, Al, Mn...), anion (CN-,
F-, NO3, Cl-, SO4),
một số hoá chất độc (thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ,
Dioxin), các sinh vật gây bệnh (vi khuẩn, kư sinh
trùng).
Tài nguyên nước của Việt Nam nh́n chung khá phong
phú. Việt Nam là nước có lượng mưa trung b́nh vào
loại cao, khoảng 2000 mm/năm, gấp 2,6 lượng mưa
trung b́nh của vùng lục địa trên Thế giới. Tổng
lượng mưa trên toàn bộ lănh thổ là 650 km3/năm,
tạo ra ḍng chảy mặt trong vùng nội địa là 324km3/năm.
Vùng có lượng mưa cao là Bắc Quang
4.000-5.000mm/năm, tiếp đó là vùng núi cao Hoàng
Liên Sơn, Tiên Yên, Móng Cái, Hoành Sơn, Đèo Cả, Bảo
Lộc, Phú Quốc 3.000-4.000 mm/năm. Vùng mưa ít nhất
là Ninh Thuận và B́nh Thuận, vào khoảng 600-700
mm/năm.
Ngoài ḍng chảy phát sinh trong vùng nội địa, hàng
năm lănh thổ Việt Nam nhận thêm lưu lượng từ Nam
Trung Quốc và Lào, với số lượng khoảng 550 km3.
Do vậy, tài nguyên nước mặt và nước ngầm có thể khai
thác và sử dụng ở Việt Nam rất phong phú, khoảng 150
km3 nước mặt một năm và 10 triệu m3
nước ngầm một ngày. Tuy nhiên, do mật độ dân số vào
loại cao, nên b́nh quân lượng nước sinh trong lănh
thổ trên đầu người là 4200m3/người, vào
loại trung b́nh thấp trên Thế giới.
Để
giải quyết các vấn đề môi trường trên cần phải có kế
hoạch nghiên cứu tổng thể và quy hoạch sử dụng tài
nguyên nước một cách hợp lư. Trong đó, cần quan tâm
đúng mức các vấn đề xử lư nước thải, quy hoạch các
công tŕnh thuỷ điện, thuỷ nông một cách hợp lư, bảo
vệ và phát triển tài nguyên rừng.
"Ô
nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối
với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy
hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp,
nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và
các loài hoang dă".
Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, người ta
phân ra các loại ô nhiễm nước: ô nhiễm vô cơ, hữu
cơ, ô nhiễm hoá chất, ô nhiễm sinh học, ô nhiễm bởi
các tác nhân vật lư.
Nước tinh khiết ở điều kiện b́nh thường sẽ bị phân
ly theo phương tŕnh phản ứng:
H2O
ố H+ + OH-
Giá trị pH của nước được xác định bằng logarit cơ số
10 nồng độ ion H+ theo công thức:
pH
= - lg (H+)
Đối với nước cất pH = 7, khi nước chứa nhiều ion H+,
pH < 7 và ngược lại, khi nước nhiều OH-
(kiềm), pH > 7.
Như vậy, pH là độ axit hay độ chua của nước. Độ pH
có ảnh hưởng tới điều kiện sống b́nh thường của các
sinh vật nước. Cá thường không sống được trong môi
trường nước có độ pH < 4 hoặc pH > 10. Sự thay đổi
pH của nước thường liên quan tới sự có mặt của các
hoá chất axit hoặc kiềm, sự phân huỷ chất hữu cơ, sự
hoà tan của một số anion SO-24,
NO-3, v.v...
Độ
pH của nước có thể xác định bằng phương pháp điện
hoá, chuẩn độ hoặc các loại thuốc thử khác nhau.
DO
là lượng oxy hoà tan trong nước cần thiết cho sự hô
hấp của các sinh vật nước (cá, lưỡng thê, thuỷ sinh,
côn trùng v.v...) thường được tạo ra do sự hoà tan
từ khí quyển hoặc do quang hợp của tảo. Nồng độ oxy
tự do trong nước nằm trong khoảng 8 - 10 ppm, và dao
động mạnh phụ thuộc vào nhiệt độ, sự phân huỷ hoá
chất, sự quang hợp của tảo và v.v... Khi nồng độ DO
thấp, các loài sinh vật nước giảm hoạt động hoặc bị
chết. Do vậy, DO là một chỉ số quan trọng để đánh
giá sự ô nhiễm nước của các thuỷ vực.
BOD
(Biochemical
oxygen
Demand - nhu cầu oxy sinh hoá) là lượng oxy cần
thiết để vi sinh vật oxy hoá các chất hữu cơ theo
phản ứng:
Vi
khuẩn
Chất hữu cơ + O2 ố
CO2 + H2O + tế bào mới + sản
phẩm trung gian
Trong môi trường nước, khi quá tŕnh oxy hoá sinh
học xảy ra th́ các vi sinh vật sử dụng oxy hoà tan,
v́ vậy xác định tổng lượng oxy hoà tan cần thiết cho
quá tŕnh phân huỷ sinh học là phép đo quan trọng
đánh giá ảnh hưởng của một ḍng thải đối với nguồn
nước. BOD có ư nghĩa biểu thị lượng các chất thải
hữu cơ trong nước có thể bị phân huỷ bằng các vi
sinh vật.
COD
(Chemical Oxygen Demand - nhu cầu oxy hóa
học) là lượng oxy cần thiết để oxy hoá các hợp chất
hoá học trong nước bao gồm cả vô cơ và hữu cơ. Như
vậy, COD là lượng oxy cần để oxy hoá toàn bộ các
chất hoá học trong nước, trong khi đó BOD là lượng
oxy cần thiết để oxy hoá một phần các hợp chất hữu
cơ dễ phân huỷ bởi vi sinh vật.
Toàn bộ lượng oxy sử dụng cho các phản ứng trên được
lấy từ oxy hoà tan trong nước (DO). Do vậy nhu cầu
oxy hoá học và oxy sinh học cao sẽ làm giảm nồng độ
DO của nước, có hại cho sinh vật nước và hệ sinh
thái nước nói chung. Nước thải hữu cơ, nước thải
sinh hoạt và nước thải hoá chất là các tác nhân tạo
ra các giá trị BOD và COD cao của môi trường nước.
Phú dưỡng là hiện tượng thường gặp trong các hồ đô
thị, các sông và kênh dẫn nước thải. Biểu hiện phú
dưỡng của các hồ đô thị là nồng độ chất dinh dưỡng
N, P cao, tỷ lệ P/N cao do sự tích luỹ tương đối P
so với N, sự yếm khí và môi trường khử của lớp nước
đáy thuỷ vực, sự phát triển mạnh mẽ của tảo và nở
hoa tảo, sự kém đa dạng của các sinh vật nước, đặc
biệt là cá, nước có màu xanh đen hoặc đen, có mùi
khai thối do thoát khí H2S v.v...
Nguyên nhân gây phú dưỡng là sự thâm nhập một lượng
lớn N, P từ nước thải sinh hoạt của các khu dân cư,
sự đóng kín và thiếu đầu ra của môi trường hồ. Sự
phú dưỡng nước hồ đô thị và các sông kênh dẫn nước
thải gần các thành phố lớn đă trở thành hiện tượng
phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới. Hiện
tượng phú dưỡng hồ đô thị và kênh thoát nước thải
tác động tiêu cực tới hoạt động văn hoá của dân cư
đô thị, làm biến đổi hệ sinh thái nước hồ, tăng thêm
mức độ ô nhiễm không khí của đô thị.
Kim loại nặng có Hg, Cd, Pb, As, Sb, Cr, Cu, Zn, Mn,
v.v... thường không tham gia hoặc ít tham gia vào
quá tŕnh sinh hoá của các thể sinh vật và thường
tích luỹ trong cơ thể chúng. V́ vậy, chúng là các
nguyên tố độc hại với sinh vật. Hiện tượng nước bị ô
nhiễm kim loại nặng thường gặp trong các lưu vực
nước gần các khu công nghiệp, các thành phố lớn và
khu vực khai thác khoáng sản. Ô nhiễm kim loại nặng
biểu hiện ở nồng độ cao của các kim loại nặng trong
nước. Trong một số trường hợp, xuất hiện hiện tượng
chết hàng loạt cá và thuỷ sinh vật.
Nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm kim loại nặng là quá
tŕnh đổ vào môi trường nước nước thải công nghiệp
và nước thải độc hại không xử lư hoặc xử lư không
đạt yêu cầu. Ô nhiễm nước bởi kim loại nặng có tác
động tiêu cực tới môi trường sống của sinh vật và
con người. Kim loại nặng tích luỹ theo chuỗi thức ăn
thâm nhập và cơ thể người. Nước mặt bị ô nhiễm sẽ
lan truyền các chất ô nhiễm vào nước ngầm, vào đất
và các thành phần môi trường liên quan khác. Để hạn
chế ô nhiễm nước, cần phải tăng cường biện pháp xử
lư nước thải công nghiệp, quản lư tốt vật nuôi trong
môi trường có nguy cơ bị ô nhiễm như nuôi cá, trồng
rau bằng nguồn nước thải.
Sinh vật có mặt trong môi trường nước ở nhiều dạng
khác nhau. Bên cạnh các sinh vật có ích có nhiều
nhóm sinh vật gây bệnh hoặc truyền bệnh cho người và
sinh vật. Trong số này, đáng chú ư là các loại vi
khuẩn, siêu vi khuẩn và kư sinh trùng gây bệnh như
các loại kư sinh trùng bệnh tả, lỵ, thương hàn, sốt
rét, siêu vi khuẩn viêm gan B, siêu vi khuẩn viêm
năo Nhật bản, giun đỏ, trứng giun v.v...
Nguồn gây ô nhiễm sinh học cho môi trường nước chủ
yếu là phân rác, nước thải sinh hoạt, xác chết sinh
vật, nước thải các bệnh viện v.v... Để đánh giá chất
lượng nước dưới góc độ ô nhiễm tác nhân sinh học,
người ta thường dùng chỉ số coliform. Đây là chỉ số
phản ánh số lượng trong nước vi khuẩn coliform,
thường không gây bệnh cho người và sinh vật, nhưng
biểu hiện sự ô nhiễm nước bởi các tác nhân sinh học.
Để xác định chỉ số coliform người ta nuôi cấy mẫu
trong các dung dịch đặc biệt và đếm số lượng chúng
sau một thời gian nhất định. Ô nhiễm nước được xác
định theo các giá trị tiêu chuẩn môi trường.
Hiện tượng trên thường gặp ở các nước đang phát
triển và chậm phát triển trên thế giới. Theo báo cáo
của Ngân hàng thế giới năm 1992, nước bị ô nhiễm gây
ra bệnh tiêu chảy làm chết 3 triệu người và 900
triệu người mắc bệnh mỗi năm. Đă có năm số người bị
mắc bệnh trên thế giới rất lớn như bệnh giun đũa 900
triệu người, bệnh sán máng 600 triệu người. Để hạn
chế tác động tiêu cực của ô nhiễm vi sinh vật nguồn
nước mặt, cần nghiên cứu các biện pháp xử lư nước
thải, cải thiện t́nh trạng vệ sinh môi trường sống
của dân cư, tổ chức tốt hoạt động y tế và dịch vụ
cộng.
Ô nhiễm nguồn nước bởi thuốc bảo vệ thực vật và phân
bón hoá học là hiện tượng phổ biến trong các vùng
nông nghiệp thâm canh trên thế giới. Trong quá tŕnh
sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hoá học,
một lượng đáng kể thuốc và phân không được cây trồng
tiếp nhận. Chúng sẽ lan truyền và và tích lũy trong
đất, nước và các sản phẩm nông nghiệp dưới dạng dư
lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật.
Tác động tiêu cực khác của sự ô nhiễm thuốc bảo vệ
thực vật và phân bón là làm suy thoái chất lượng môi
trường khu vực canh tác nông nghiệp như phú dưỡng
đất, nước, ô nhiễm đất, nước, giảm tính đa dạng sinh
học của khu vực nông thôn, suy giảm các loài thiên
địch, tăng khả năng chống chịu của sâu bệnh đối với
thuốc bảo vệ thực vật.
"Nước
ngầm là một dạng nước dưới đất, tích trữ trong các
lớp đất đá trầm tích bở rời như cặn, sạn, cát bột
kết, trong các khe nứt, hang caxtơ dưới bề mặt trái
đất, có thể khai thác cho các hoạt động sống của con
người".
Theo độ sâu phân bố, có thể chia nước ngầm thành
nước ngầm tầng mặt và nước ngầm tầng sâu. Đặc điểm
chung của nước ngầm là khả năng di chuyển nhanh
trong các lớp đất xốp, tạo thành ḍng chảy ngầm theo
địa h́nh. Nước ngầm tầng mặt thường không có lớp
ngăn cách với địa h́nh bề mặt. Do vậy, thành phần và
mực nước biến đổi nhiều, phụ thuộc vào trạng thái
của nước mặt. Loại nước ngầm tầng mặt rất dễ bị ô
nhiễm. Nước ngầm tầng sâu thường nằm trong lớp đất
đá xốp được ngăn cách bên trên và phía dưới bởi các
lớp không thấm nước. Theo không gian phân bố, một
lớp nước ngầm tầng sâu thường có ba vùng chức năng:
Khoảng cách giữa vùng thu nhận và vùng khai thác
nước thường khá xa, từ vài chục đến vài trăm km. Các
lỗ khoan nước ở vùng khai thác thường có áp lực. Đây
là loại nước ngầm có chất lượng tốt và lưu lượng ổn
định. Trong các khu vực phát triển đá cacbonat
thường tồn tại loại nước ngầm caxtơ di chuyển theo
các khe nứt caxtơ. Trong các dải cồn cát vùng ven
biển thường có các thấu kính nước ngọt nằm trên mực
nước biển.
Nước ngầm là nguồn cung cấp nước sinh hoạt chủ yếu ở
nhiều quốc gia và vùng dân cư trên thế giới. Do vậy,
ô nhiễm nước ngầm có ảnh hưởng rất lớn đến chất
lượng môi trường sống của con người. Các tác nhân
gây ô nhiễm và suy thoái nước ngầm bao gồm:
Quan niệm về mức độ sạch của nước uống thay đổi theo
từng thời kỳ, tuỳ thuộc vào nhận thức, phong tục,
tập quán và mức độ phát triển kinh tế, khoa học kỹ
thuật của các cộng đồng.
Tuy vậy, có thể nói "Nước uống sạch là nước không
có màu, mùi vị khác thường gây khó chịu cho người
uống, không có các chất tan và không tan độc hại cho
con người, không có các vi khuẩn gây bệnh và không
gây tác động xấu cho sức khoẻ người sử dụng trước
mắt cũng như lâu dài".
Trong nước sông hồ thường có nhiều chất lơ lửng, một
số chất khoáng hoà tan và các vi sinh vật gây bệnh
cho con người. Nước lấy từ các giếng khơi và giếng
khoan thường trong và ít vi khuẩn gây bệnh hơn,
nhưng lại nhiều muối khoáng hoà tan hơn, đặc biệt là
sắt. Do vậy, trước khi sử dụng cho sinh hoạt, các
loại nước này cần được xử lư để loại bỏ chất lơ lửng
và sắt. Thông thường ở các làng quê, nước lấy từ
sông hồ về phải đánh phèn, để lắng hoặc lọc qua một
lớp sỏi, cát dày trước khi dùng. Ở các đô thị, khi
có điều kiện, người ta khử trùng để tiêu diệt vi
trùng gây bệnh trong nước và cung cấp nước đó tới
người dùng qua hệ thống ống dẫn kín. Tuỳ thuộc vào
phương pháp xử lư và khử trùng, nước có thể đạt độ
trong sạch tới mức uống được. Tuy nhiên mức độ khử
trùng càng cao th́ chi phí sản xuất càng lớn, làm
giá thành nước tăng lên. Do đó, không phải ở đâu
người ta cũng khử trùng nước máy tới mức có thể uống
ngay được.
Người ta đă chế tạo được những màng lọc đặc biệt, có
tác dụng chỉ cho nước đi qua và giữ lại toàn bộ các
vi sinh vật gây bệnh cũng như các chất tan trong
nước. Nước sau khi lọc tinh khiết, trong sạch như
nước cất. Tuy nhiên, nước này cũng như nước cất,
không hoàn toàn có lợi cho sức khoẻ con người, mặc
dù chúng không chứa các vi trùng gây bệnh, nhưng
chúng có thể không có đủ các loại muối khoáng hoà
tan cần thiết cho cơ thể con người. Ngoài ra, máy
lọc nước lại đắt tiền, rơ ràng là dùng máy lọc nước
để uống vừa tốn kém, vừa không có lợi.
Đun sôi là biện pháp tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh
đơn giản và hiệu quả nhất. Tuy nhiên, trong khi đun
cần phải để cho nước sôi một lúc, nhất là khi đun
nước trên các vùng núi cao. B́nh đựng nước đun sôi
để nguội, chai hộp nước ngọt uống dở phải được đậy
kín để tránh côn trùng,
Nước mưa, trong dân gian c̣n gọi là nước không rễ,
được nhiều người coi là nước sạch. Một số người dân
thích uống nước mưa không đun sôi v́ nhiều lẽ: nó
chứa ít các loại muối khoáng hoà tan, chứa ít sắt
làm cho nước không tanh... Người ta c̣n cho rằng
nước mưa, nước tuyết tan không có thành phần nước
nặng, nên rất có lợi cho sức khoẻ con người.
Tuy nhiên nước mưa hoàn toàn không sạch như người ta
tưởng, nhất là trong thời đại ngày nay. Bởi v́ không
khí nhiều vùng đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. mỗi hạt
mưa khi rơi từ trên cao xuống đă rửa sạch một vài
kilômet không khí. Do đó trong nước mưa cũng có thể
có rất nhiều vi trùng gây bệnh, nhiều chất hoà tan
độc hại, ví dụ như axit nitơric, axit sunfuaric...
Hơn nữa nước mưa thường được hứng từ mái nhà, là nơi
tích luỹ rất nhiều chất bẩn. V́ thế không nên uống
nước mưa chưa đun sôi.
Đông lạnh không có tác dụng sát trùng. B́nh thường
các nhà máy làm nước đá đều có biện pháp khử trùng,
tiêu diệt vi trùng gây bệnh trong nước trước khi đưa
nước vào máy làm đông lạnh. Trong khi đó, nhiều cơ
sở sản xuất nước đá tư nhân thường chỉ lấy nước máy,
nước giếng thông thường để làm đá, do đó đá của họ
chứa rất nhiều vi trùng, dễ gây các bệnh đường ruột,
không nên uống.
Các loại nước đóng chai, nước giải khát cũng không
hoàn toàn đáng tin tưởng, bởi không phải tất cả các
cơ sở sản xuất và bán các loại nước đó đều dùng nước
đun sôi, nước đă tiệt trùng, nhất là các hộ sản xuất
cá thể. Các hàng bán nước giải khát ngoài vỉa hè
thường không tuân thủ đầy đủ các quy định về vệ sinh
thực phẩm, hay dùng các loại nước đóng chai không
đảm bảo chất lượng, chỗ bán hàng nhiều khi rất bẩn,
ngay cạnh cống rănh, đống rác... hôi thối và nhiều
ruồi, muỗi, cốc chén không sạch, dễ gây bệnh đường
ruột cho người uống.
Đặc biệt nguy hiểm là các loại nước giải khát chế
biến tại chỗ, như nước mía ép, do máy móc và môi
trường sản xuất không đảm bảo vệ sinh. Một số loại
nước khoáng có đặc tính chữa bệnh và chỉ được dùng
theo chỉ định của bác sĩ.
Biển và đại dương chiếm 71% diện tích hành tinh với
độ sâu trung b́nh 3.710m và tổng khối nước 1,37 tỷ
km3.
Tài nguyên biển và đại dương rất đa dạng được chia
ra thành các loại: Nguồn lợi hoá chất và khoáng chất
chứa trong khối nước và đáy biển; nguồn lợi nhiên
liệu hoá thạch, chủ yếu là dầu và khí tự nhiên,
nguồn năng lượng "sạch" khai thác từ gió, nhiệt độ
nước biển, các ḍng hải lưu và thuỷ triều. Mặt biển
và vùng thềm lục địa là đường giao thông thuỷ, biển
là nơi chứa đựng tiềm năng cho phát triển du lịch,
tham quan, nghỉ ngơi, giải trí, nguồn lợi sinh vật
biển.
Sinh vật biển là nguồn lợi quan trọng nhất của con
người, gồm hàng loạt nhóm động vật, thực vật và vi
sinh vật. Hai nhóm đầu có tới 200.000 loài. Sản
lượng sinh học của biển và đại dương như sau: Thực
vật nổi 550 tỷ tấn, thực vật đáy 0,2 tỷ tấn, các
loài động vật tự bơi (mực, cá, thú...) 0,2 tỷ tấn.
Năng suất sơ cấp của biển khoảng 50 - 250g/m2/năm.
Sản lượng khai thác thuỷ sản từ biển và đại dương
toàn thế giới gia tăng, ví dụ năm 1960: 22 triệu
tấn; 1970: 40 triệu tấn; 1980: 65 triệu tấn; 1990:
80 triệu tấn. Theo đánh giá của FAO, lượng thuỷ sản
đánh bắt tối đa từ biển là 100 triệu tấn.
Biển và đại dương là kho chứa hoá chất vô tận. Tổng
lượng muối tan chứa trong nước biển là 48 triệu km3,
trong đó có muối ăn, iốt và 60 nguyên tố hoá học
khác. Các loại khoáng sản khai thác chủ yếu từ biển
như dầu khí, quặng Fe, Mn, quặng sa khoáng và các
loại muối. Năng lượng sạch từ biển và đại dương hiện
đang được khai thác phục vụ vận tải biển, chạy máy
phát điện và nhiều lợi ích khác của con người.
Biển Đông của Việt nam có diện tích 3.447.000 km2,
với độ sâu trung b́nh 1.140m, nơi sâu nhất 5.416m.
Vùng có độ sâu trên 2.000m chiếm 1/4 diện tích thuộc
phần phía Đông của biển. Thềm lục địa có độ sâu <
200m chiếm trên 50% diện tích. Tài nguyên của Biển
Đông rất đa dạng, gồm dầu khí, tài nguyên sinh vật
(thuỷ sản, rong biển). Riêng trữ lượng hải sản ở
phần Biển Đông thuộc Việt Nam cho phép khai thác với
mức độ trên 1 triệu tấn/năm. Sản lượng dầu khí khai
thác ở vùng biển Việt Nam đạt 10 triệu tấn hiện nay
và 20 triệu tấn vào năm 2.000.
Biển là nơi tiếp nhận phần lớn các chất thải từ lục
địa theo các ḍng chảy sông suối, các chất thải từ
các hoạt động của con người trên biển như khai thác
khoáng sản, giao thông vận tải biển. Trong nhiều
năm, biển sâu c̣n là nơi đổ các chất thải độc hại
như chất thải phóng xạ của nhiều quốc gia trên thế
giới. Các biểu hiện của sự ô nhiễm biển khá đa dạng,
có thể chia ra thành một số dạng như sau:
Công ước Luật biển năm 1982 đă chỉ ra 5 nguồn gây ô
nhiễm biển: Các hoạt động trên đất liền, thăm ḍ và
khai thác tài nguyên trên thềm lục địa và đáy đại
dương, thải các chất độc hại ra biển, vận chuyển
hàng hoá trên biển và ô nhiễm không khí.
Bên cạnh các nguồn ô nhiễm nhân tạo trên, biển có
thể bị ô nhiễm bởi các quá tŕnh tự nhiên như núi
lửa phun, tai biến băo lụt, sự cố ṛ rỉ dầu tự nhiên
v.v...
Bảo vệ môi trường biển là một trong những nội dung
quan trọng của các chương tŕnh bảo vệ môi trường
của Liên Hợp Quốc và các quốc gia trên thế giới.
Công ước Luật biển năm 1982, Công ước Marpol 73/78
chống ô nhiễm biển, Công ước quốc tế 1990 về việc
sẵn sàng đối phó và hợp tác quốc tế chống ô nhiễm
dầu đă thể hiện sự quan tâm của quốc tế đối với vấn
đề ô nhiễm biển.
Hàng năm loài người thải ra biển hơn 10 triệu tấn
dầu bẩn, trong đó có khoảng 5 triệu tấn được thải ra
qua các ḍng sông và các khu công nghiệp ven biển,
khoảng 1 triệu tấn do rửa khoang chứa của các tàu
chở dầu và dầu bẩn của các tàu thuyền khác thải ra.
Hàng ngày, con người c̣n không ngừng đổ ra biển một
khối lượng lớn các chất thải công nghiệp như kim
loại nặng, thuốc trừ sâu, nước thải công nghiệp và
sinh hoạt, chất thải thể rắn và các chất thải phóng
xạ, v.v... Biển trở thành một thùng rác khổng lồ
không đáy. Biển rộng mênh mông và sâu thẳm, có thể
làm trong sạch rất nhiều chất ô nhiễm do con người
đổ vào. Nhưng nếu con người không ngừng đổ vào biển
các loại chất thải với khối lượng rất lớn và liên
tục như vậy th́ biển dù rộng lớn đến mấy cũng không
thể chịu nổi.
Trong thập kỷ 70, ở vùng biển Đại Tây Dương và biển
Bắc đă có hàng chục vạn chim biển và vô số cá biển
chết v́ ô nhiễm dầu. Con rùa biển lớn nhất thế giới
nặng hơn 900 kg t́m thấy ở bờ biển xứ Gan bị tắc
ruột chết v́ một chiếc túi nilon khổ 15x22cm. Các
kim loại nặng đổ ra biển sẽ tích tụ trong cơ thể
sinh vật biển. Khi con người ăn những con cá có kim
loại nặng sẽ bị nhiễm độc. Chất thải phóng xạ đổ ra
biển c̣n đáng lo ngại hơn. Các chất phóng xạ này
trực tiếp tham gia vào quá tŕnh hoạt động thay đổi
sự sống của sinh vật hải dương, qua đó xâm nhập vào
cơ thể con người, làm tăng nguy cơ bị bệnh ung thư.
Tóm lại, loài người coi biển cả là thùng rác th́ rốt
cuộc những rác rưởi đó sẽ quay lại gây tai hoạ cho
con người. Chúng ta cần biết rằng, khả năng tự làm
sạch các chất ô nhiễm của biển là có hạn, bởi vậy
con người cần phải xử lư trước khi đổ ra biển các
chất nước thải, khí thải, rác rưởi... Không nên v́
tiết kiệm công của mà đổ bừa ra biển, hậu quả sẽ c̣n
lớn hơn nhiều.
Biển Việt Nam nhận các chất gây ô nhiễm từ hai nguồn
chính là lục địa và từ biển. Các chất gây ô nhiễm
chủ yếu là dầu, hoá chất bảo vệ thực vật, chất thải
sinh hoạt, chất thải công nghiệp.
Việt Nam có khoảng 13 hệ sinh thái chính ở biển và
đới bờ. Các hệ sinh thái này rất dễ bị tổn thương
bởi tác động ô nhiễm, đặc biệt là ô nhiễm dầu. Theo
thống kê của Cục Môi trường (Bộ Khoa học, Công nghệ
và Môi trường), kể từ năm 1989 đến nay có gần 20 vụ
tràn dầu lớn nhỏ được ghi nhận. Điển h́nh là:
Thiệt hại kinh tế ước tính lên đến hàng trăm tỷ
đồng. Hơn nữa, hàng năm khoảng 200 triệu tấn dầu thô
của các nước vận chuyển thông qua vùng đặc quyền
kinh tế của Việt Nam đến Nhật Bản và Hàn Quốc, đang
tạo nguy cơ không nhỏ về sự cố tràn dầu.
Năm 1971, vào một buổi sáng sớm ngư dân ở vùng biển
Kagosin (Nhật Bản) bỗng chứng kiến một hiện tượng kỳ
lạ, chỉ trong một đêm nước biển đang từ màu xanh
chuyển sang màu đỏ. Tin tức truyền đi rất nhanh, dân
chúng ở các vùng kéo nhau đến bờ biển Kagosin ngắm
cảnh đẹp hiếm có, ai cũng tấm tắc khen. Họ đâu biết
rằng, đó không phải là một cảnh đẹp mà là một tai
hoạ lớn. Chẳng bao lâu, gió từ biển khơi đưa vào mùi
tanh nồng rồi xuất hiện vô số cá chết nổi trôi dạt
vào bờ biển. Đến lúc đó ngư dân vùng biển Kagosin
mới hiểu rằng nguồn sống của họ sẽ bị cạn kiệt.
Chuyện ǵ xảy ra vậy? Đó là do nước thải sinh hoạt,
nước thải công nghiệp và phân hoá học ở đồng ruộng
đă hoà lẫn với nước mưa chảy ra biển Kagosin. Lẽ ra
nước sông, nước ruộng chảy ra biển đem theo các chất
hữu cơ và dinh dưỡng như các hợp chất của nitơ,
photpho, cacbon với tỷ lệ thích hợp sẽ có ích cho
biển. Nhưng các chất dinh dưỡng đó quá nhiều khiến
nước biển bị băo hoà, chúng tiêu hoá hết khí oxy hoà
tan trong nước biển khiến tôm cá không c̣n oxy để
thở, ngược lại các sinh vật phù du như tảo sinh sôi
rất nhanh. Màu đỏ của nước biển chính là màu của một
loại tảo. Do các loại tảo có màu khác nhau nên có
khi nước biển chuyển thành màu vàng hoặc màu xanh lá
cây.
Nước biển đỏ là kẻ thù lớn của nghề cá. Biển ở đâu
xuất hiện màu đỏ, cá ở đó sẽ bị chết v́ ngạt thở,
không những thế hiện tượng nước biển đỏ xuất hiện
không ngắn như ảo ảnh ở biển mà tồn tại khá lâu, có
nơi kéo dài tới hơn 1700 ngày như vùng biển Nhật
Bản.
Tháng 8/1978, vùng biển Bột Hải ở Trung Quốc cũng
xuất hiện hiện tượng nước biển đỏ trên một diện tích
560 km2 suốt hơn 20 ngày. Các nhà khoa
học đă kết luận đó là do nguồn nước thải ra từ thành
phố Thiên Tân và Bắc Kinh gây ra. Qua đó có thể thấy
rằng, hiện tượng nước biển đỏ không phải lây lan từ
nước khác sang mà là "sản phẩm" của chính những nước
không biết bảo vệ môi trường biển.
Muốn pḥng ngừa hiện tượng nước biển đỏ, con người
nhất thiết phải giảm bớt việc đổ các chất hữu cơ và
các chất giàu dinh dưỡng ra biển.
Năm 1969 nước Mỹ xây dựng một nhà máy điện nguyên tử
trên bờ vịnh Bistan. Trước khi xây dựng nhà máy,
thuỷ triều lên theo hướng tây nam và xuống theo
hướng đông bắc. Nhưng sau khi nhà máy điện nguyên tử
đi vào hoạt động, mỗi phút có hơn 2000m3
nước làm mát xả ra biển khiến thuỷ triều ở bờ vịnh
Bistan thay đổi theo hướng ngược lại. Không những
vậy, nước nóng do nhà máy xả ra đă làm cho khắp một
vùng biển rộng lớn 60 ha vốn có nhiệt độ mặt nước 30
- 310C tăng lên tới 33 - 350C,
trong đó có 10 - 12 ha mặt biển nhiệt độ lên tới 35
- 360C. Xung quanh ống xả nước nóng nhiệt
độ lên cao tới 400C. Nói chung có khoảng
hơn 900 ha mặt biển bị nóng lên do nước xả của nhà
máy điện nguyên tử. Trong khu vực 10 - 12 ha nóng
nhất hầu như không t́m thấy bất kỳ loại động thực
vật nào. Các loại tảo thường thấy như tảo xanh, tảo
đỏ, tảo tím đều bị tuyệt diệt, chỉ c̣n sót lại loại
tảo xanh lam. Ở các vùng nước nóng khác, các loài
động thực vật biển cũng giảm đi nhiều, nhất là vào
mùa hè người ta thường thấy xác tôm và cua nhỏ chết
nổi trên mặt nước.
V́
sao lại như vậy ?
Đó
là v́ nhiệt độ nước lên cao làm giảm lượng khí oxy
hoà tan trong nước, ảnh hưởng tới quá tŕnh thay đổi
tế bào của động thực vật. Các sinh vật quen sống ở
nước biển có nhiệt độ b́nh thường, khi nước biển
nóng lên, chúng sẽ chết hoặc chạy trốn tới vùng nước
khác mát hơn. Một số loại cá do nhiệt độ nước biển
tăng cao đă không t́m được tới nơi đẻ trứng thích
hợp hoặc bị nhầm lẫn thời gian và địa điểm nên không
thực hiện được việc đẻ trứng di truyền ṇi giống.
Nhiệt độ nước biển lên cao khiến các sinh vật thích
ấm áp sinh sôi nảy nở nhanh chóng, trong khi đó các
loại tôm, cá, trai, ṣ,... có giá trị kinh tế lại
giảm đi nhanh, dẫn đến phá vỡ môi trường sống trong
vùng biển đó. Những hiện tượng như vậy thường xảy ra
khi nhiệt độ nước biển tăng lên trên 40C
so với mức b́nh thường và người ta gọi là sự ô nhiễm
nóng. Trong thực tế có khi không cần nước nóng đến
như vậy cũng đủ gây ra hiện tượng ô nhiễm nóng.
Ô
nhiễm nóng chủ yếu là do các nguồn nước làm mát
thiết bị, máy móc xả ra, trong đó chủ yếu là của
ngành công nghiệp điện lực. Các ngành công nghiệp
khác như luyện kim, hoá chất, dầu mỏ, cơ khí... cũng
góp phần đáng kể gây ra ô nhiễm nóng, nhưng hậu quả
của ngành công nghiệp điện lực là đáng lưu ư nhất.
Hiện nay sản lượng điện của toàn thế giới mỗi năm
tăng 7,2%, khoảng 10 năm sau sẽ tăng gấp đôi.
Ô
nhiễm nóng biển đôi khi cũng mang lại lợi ích nhất
định. Ví dụ về mùa đông nhiệt độ nước biển tăng lên
giúp cho một số loài cá đỡ bị rét cóng. Nhưng xét
cho cùng th́ lợi ít hại nhiều. V́ vậy nói chung vẫn
nên t́m cách ngăn chặn hiện tượng này. Đă có những
đề xuất dùng ống dẫn dài xả nước làm nguội máy ra
vùng biển xa bờ, hoặc hút nước lạnh ở đáy biển để
làm nguội máy. Những phương án này có hiệu quả hay
không c̣n chờ thực tế trả lời.
El-Nino ban đầu là tên của ḍng hải lưu chảy theo
hướng nam ngoài khơi bờ biển Pêru và Êcuađo dẫn đến
sự nóng lên của bề mặt nước phía đông Thái B́nh
Dương xích đạo dọc ngoài khơi bờ biển Pêru và Êcuađo
vốn thường là lạnh. Hàng năm, vào mùa Giáng sinh,
ḍng hải lưu ấm chảy về phía nam dọc bờ biển Êcuađo
thay thế cho nước lạnh ở đây và ngư dân địa phương
gọi hiện tượng này là El-Nino (Chúa Hài đồng).
Ngày nay, El-Nino được dùng để chỉ hiện tượng nóng
lên khác thường của nước biển và vành đai xích đạo
rộng lớn dài gần 10.000km, từ bờ biển Nam Mỹ đến
quần đảo Macsan, Marudơ ở khu vực giữa Thái B́nh
Dương. El-Nino thường gắn với một quá tŕnh lớn của
khí quyển - đại dương là dao động Nam bán cầu và
được gọi chung là ENSO. Hiện tượng El-Nino thường
lặp lại với chu kỳ từ 8 đến 11 năm, chu kỳ ngắn hơn
là 2 đến 3 năm. Giữa các thời kỳ nóng lên bất thường
của nước biển ở khu vực trên, đôi khi c̣n xảy ra
hiện tượng ngược lại, nước biển lạnh đi - Anti-
El-Nino, hay c̣n gọi là La-Nina.
Khi xuất hiện, El-Nino gây ra những thiên tai nặng
nề như mưa lớn, băo, lũ ở vùng này, hạn hán, cháy
rừng ở vùng khác, làm thiệt hại lớn về người, thảm
hoạ về kinh tế - xă hội và đặc biệt là những thiệt
hại không thể khắc phục về môi trường.
Trong khoảng 100 năm trở lại đây, những lần El-Nino
xuất hiện gây thiệt hại lớn là các năm 1877-1878,
1888; đối El-Nino (La-Nina) 1973-1975 và đặc biệt là
"El-Nino thế kỷ 1982-1983" gây tổng thiệt hại cho
toàn thế giới là 13 tỷ đô la.
Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới, thiệt hại do
El-Nino 1997-1998 gây cho Inđônêxia, Malaysia,
Singapo và đảo Thái B́nh Dương đă lên tới 20 tỷ đô
la.
Không khí ở vùng bờ biển chứa một lượng khá lớn
anion. Các anion này được gọi là "vitamin không
khí", chúng theo đường hô hấp vào cơ thể con người,
cải thiện hoạt động của phổi, tăng thêm khả năng hấp
thụ oxy và thải khí cacbonic. Thông thường ở những
nơi công cộng trong thành phố, mỗi xăngtimet khối
không khí có từ 10-20 anion, trong pḥng ở có từ
40-50 anion/cm3, ở băi cỏ hoặc công viên
có 100-200 anion/cm3, trong khi đó ở vùng
bờ biển có tới 10.000 anion/cm3, nhiều
gấp mấy trăm lần so với trong pḥng ở.
Các anion này là các ion mang điện nên có tác dụng
hạn chế vi khuẩn sinh sôi nảy nở. Môi trường nhiều
anion sẽ làm tăng công năng thần kinh giao cảm của
con người, khiến con người cảm thấy sảng khoái vui
vẻ, tăng thêm hồng cầu trong máu.
V́
thế, không khí ở vùng bờ biển rất có lợi cho sức
khoẻ con người. Hầu như ai cũng cảm thấy không khí ở
bờ biển rất trong lành, hít thở thật sảng khoái, đặc
biệt có lợi cho những người mắc bệnh thiếu máu, sưng
phổi, cao huyết áp, suy nhược thần kinh, hen
suyễn,... Đó cũng chính là lư do v́ sao các trại
điều dưỡng ngày càng được xây dựng nhiều ở vùng bờ
biển.
Băng là một thành phần quan trọng của thuỷ quyển,
tập trung chủ yếu ở hai cực trái đất. Khối lượng
băng trên trái đất chiếm tới 75% tổng lượng nước
ngọt và gần 2% khối lượng thuỷ quyển. Băng tập trung
nhiều nhất ở châu Nam cực với chiều dày hàng km và
tuổi địa chất hàng vạn năm. Ở một số vùng núi cao và
các đảo gần hai cực, tồn tại những khối băng có quy
mô nhỏ. Khối lượng băng trên trái đất thay đổi theo
thời gian, phụ thuộc vào nhiệt độ trung b́nh của
trái đất.
Vào thời kỳ băng hà, lượng băng ở các cực tăng lên,
ngược lại với thời kỳ tan băng, khi nhiệt độ trái
đất tăng lên. Các nghiên cứu khoa học cho biết, 16 -
18 ngh́n năm trước, tồn tại một thời kỳ băng hà lớn,
mực nước biển thấp hơn hiện nay 120m. Sau thời kỳ
trên là thời kỳ ấm dần, mực nước biển tăng lên do
tan băng ở hai cực. Trong bốn ngh́n năm gần đây, tốc
độ dâng lên của nước biển là 8 cm/ 100 năm. Bề mặt
băng ở hai cực có tác động phản xạ ánh sáng mặt trời
chiếu xuống trái đất.
Trong những năm gần đây, sự gia tăng của nhiệt độ
khí quyển toàn cầu (khoảng 0,3 - 0,6 oC
trong 100 năm qua) bởi hiệu ứng nhà kính đang làm
cho tốc độ tan băng ở hai cực và mực nước biển tăng
lên. Với tốc độ tăng này, vào cuối thế kỷ 21, sự tan
băng ở vùng cực và núi cao sẽ làm cho mực nước biển
dâng cao từ 65 - 100 cm. Mực nước biển dâng cao do
tan băng có thể gây ra các hiện tượng:
Sinh quyển chính là lớp vỏ sống của
trái đất, một hệ thống động vô cùng phức tạp với số
lượng lớn các yếu tố ngẫu nhiên và nhiều quá tŕnh
mang đặc điểm xác suất. Trong thành phần của sinh
quyển có tầng đối lưu của khí quyển, toàn bộ thuỷ
quyển, một phần của thạch quyển cho tới các lớp
nhiệt độ 100oC. Như vậy, sinh quyển là
toàn bộ thế giới sinh vật cùng với các yếu tố của
môi trường bao quanh chúng trên trái đất, bao gồm cả
các hoạt động của sinh vật đă, đang và sẽ tồn tại
trên vỏ trái đất.
Trong sự h́nh thành sinh quyển, có sự tham gia tích
cực của các yếu tố bên ngoài như năng lượng mặt
trời, sự nâng lên và hạ xuống của vỏ trái đất, các
quá tŕnh tạo núi, băng hà v.v... Các cơ chế xác
định tính thống nhất và sự toàn vẹn của sinh quyển
là sự di truyền và tiến hoá của thế giới sinh vật,
ṿng tuần hoàn sinh địa hoá của các nguyên tố hoá
học, ṿng tuần hoàn nước tự nhiên. Sinh quyển tồn
tại trên trái đất trong mối cân bằng động với các hệ
tự nhiên khác.
"Sinh
khối là tổng trọng lượng của sinh vật sống trong
sinh quyển hoặc số lượng sinh vật sống trên một đơn
vị diện tích, thể tích vùng".
Khối lượng sinh khối trong sinh quyển ước tính là
n.1014 - 2.1016 tấn. Trong đó,
riêng ở các đại dương hiện có 1,1. 109
tấn sinh khối thực vật và 2,89. 1010 tấn
sinh khối động vật. Phần chủ yếu của sinh khối tập
trung trên lục địa với ưu thế nghiêng về phía sinh
khối thực vật.
Sinh khối của trái đất hiện chiếm một tỷ lệ nhỏ so
với trọng lượng của toàn bộ trái đất và rất bé so
với thạch quyển, thuỷ quyển. Tuy nhiên, trong thời
gian địa chất lâu dài, từ khi xuất hiện vào khoảng 3
tỷ năm trước đây, sinh khối trái đất đă thực hiện
một chu tŕnh biến đổi mạnh mẽ một khối lượng lớn
vật chất trên trái đất. Sinh khối có mặt trên hầu
hết các loại đất đá trầm tích, biến chất và các
khoáng sản trầm tích của trái đất dưới dạng vật chất
hữu cơ. Theo tính toán của của các nhà khoa học,
tổng khối lượng vật chất hữu cơ trong toàn bộ các đá
trầm tích là 3,8. 1015 tấn.
Thực vật tổng hợp hydratcacbon trực tiếp từ khí
ôxitcacbon, nước, các khoáng chất tan trong đất và
nước để tạo ra các tế bào của ḿnh. Động vật ăn cỏ
sử dụng các chất hữu cơ do thực vật tổng hợp. Động
vật ăn thịt sử dụng động vật ăn cỏ làm thức ăn. Tất
cả thức ăn thừa, xác chết của động thực vật được vi
khuẩn và nấm phân hủy thành các hợp chất đơn giản
làm chất dinh dưỡng cho thực vật. Các chất dinh
dưỡng theo chu tŕnh tuần hoàn trên chuyển vận từ
đất, nước, không khí, đất đá và các cơ thể sống nhờ
nguồn năng lượng được cung cấp từ mặt trời. Đó gọi
là Chu tŕnh dinh dưỡng.
Trong thành phần của tế bào sống có mặt hầu hết các
nguyên tố hoá học quan trọng của sinh quyển. Hàm
lượng của các nguyên tố hoá học chứa trong các tế
bào sống sắp xếp theo trật tự từ cao xuống thấp như
sau: C - H - O - N - P - Ca - Cl- Cu- Fe- Mg- K- Na-
S- Al- B- Br- Cr- Co- F- Ga- I- Mn- Mo- Se- Si- Sn-
Ti- V- Zn. Nồng độ của các nguyên tố trên trong các
loài sinh vật thay đổi, phụ thuộc vào từng loại và
đặc điểm môi trường sống của các cá thể.
"Hệ
sinh thái là hệ thống các quần thể sinh vật sống
chung và phát triển trong một môi trường nhất định,
quan hệ tương tác với nhau và với môi trường đó".
Theo độ lớn, hệ sinh thái có thể chia thành hệ sinh
thái nhỏ (bể nuôi cá), hệ sinh thái vừa (một thảm
rừng, một hồ chứa nước), hệ sinh thái lớn (đại
dương). Tập hợp tất cả các hệ sinh thái trên bề mặt
trái đất thành một hệ sinh thái khổng lồ sinh thái
quyển (sinh quyển). Hệ sinh thái bao gồm hai thành
phần: Vô sinh (nước, không khí,...) và sinh vật.
Giữa hai thành phần trên luôn luôn có sự trao đổi
chất, năng lượng và thông tin.
Sinh vật trong hệ sinh thái được chia làm ba loại:
Trong hệ sinh thái liên tục xảy ra quá tŕnh tổng
hợp và phân huỷ vật chất hữu cơ và năng lượng. Ṿng
tuần hoàn vật chất trong hệ sinh thái là ṿng kín,
c̣n ṿng tuần hoàn năng lượng là ṿng hở. Như vậy,
năng lượng mặt trời được sinh vật sản xuất tiếp nhận
sẽ di chuyển tới sinh vật tiêu thụ các bậc cao hơn.
Trong quá tŕnh đó, năng lượng bị phát tán và thu
nhỏ về kích thước. Trái lại, các nguyên tố hoá học
tham gia vào quá tŕnh tổng hợp chất hữu cơ sau một
chu tŕnh tuần hoàn sẽ trở lại trạng thái ban đầu
trong môi trường.
"Cân
bằng sinh thái là trạng thái ổn định tự nhiên của hệ
sinh thái, hướng tới sự thích nghi cao nhất với điều
kiện sống".
Trong một hệ sinh thái, vật chất luân chuyển từ
thành phần này sang thành phần khác. Đây là một chu
tŕnh tương đối khép kín. Trong điều kiện b́nh
thường, tương quan giữa các thành phần của hệ sinh
thái tự nhiên là cân bằng.
Ví
dụ: Trong một hệ sinh thái rừng, thực vật lấy dinh
dưỡng từ đất tổng hợp thành chất hữu cơ. Chất hữu cơ
này đủ để một phần nuôi dưỡng phát triển cây, một
phần nuôi động vật ăn thực vật trong rừng, một phần
rơi rụng, trả lại màu cho đất. Động vật ăn thực vật
phát triển vừa đủ để tiêu thụ hết phần thức ăn thiên
nhiên dành cho nó. Phân, xác động vật và lá rụng,
cành rơi trên mặt đất được vi sinh vật phân huỷ hết
để trả lại cho đất chất dinh dưỡng nuôi cây. Do vậy
đất rừng luôn màu mỡ, giàu chất hữu cơ, nhiều vi
sinh vật và côn trùng, cây rừng đa dạng và tươi tốt,
động vật phong phú. Đó chính là cân bằng sinh thái.
Cân bằng sinh thái không phải là một trạng thái tĩnh
của hệ. Khi có một tác nhân nào đó của môi trường
bên ngoài, tác động tới bất kỳ một thành phần nào đó
của hệ, nó sẽ biến đổi. Sự biến đổi của một thành
phần trong hệ sẽ kéo theo sự biến đổi của các thành
phần kế tiếp, dẫn đến sự biến đổi cả hệ. Sau một
thời gian, hệ sẽ thiết lập được một cân bằng mới,
khác với t́nh trạng cân bằng trước khi bị tác động.
Bằng cách đó hệ biến đổi mà vẫn cân bằng. Trong quá
tŕnh này động vật ăn cỏ và vi sinh vật đóng vai tṛ
chủ đạo đối với việc kiểm soát sự phát triển của
thực vật.
Khả năng thiết lập trạng thái cân bằng mới của hệ là
có hạn. Nếu một thành phần nào đó của hệ bị tác động
quá mạnh, nó sẽ không khôi phục lại được, kéo theo
sự suy thoái của các thành phần kế tiếp, làm cho
toàn hệ mất cân bằng, suy thoái. Hệ sinh thái càng
đa dạng, nhiều thành phần th́ trạng thái cân bằng
của hệ càng ổn định. V́ vậy, các hệ sinh thái tự
nhiên bền vững có đặc điểm là có rất nhiều loài, mỗi
loài là thức ăn cho nhiều loài khác nhau. Ví dụ như:
trên các cánh đồng cỏ, chuột thường xuyên bị rắn,
chó sói, cáo, chim ưng, cú mèo... săn bắt. B́nh
thường số lượng chim, trăn, thú, chuột cân bằng với
nhau. Khi con người t́m bắt rắn và chim th́ chuột
mất kẻ thù, thế là chúng được dịp sinh sôi nảy nở.
Cân bằng sinh thái là trạng thái ổn định tự nhiên
của hệ sinh thái, hướng tới sự thích nghi cao nhất
với điều kiện sống. Cân bằng sinh thái được tạo ra
bởi chính bản thân hệ và chỉ tồn tại được khi các
điều kiện tồn tại và phát triển của từng thành phần
trong hệ được đảm bảo và tương đối ổn định. Con
người cần phải hiểu rơ các hệ sinh thái và cân nhắc
kỹ trước khi tác động lên một thành phần nào đó của
hệ, để không gây suy thoái, mất cân bằng cho hệ sinh
thái.
Những nhà vi sinh vật học chỉ biết được khoảng 4.000
loài vi khuẩn v́ rất khó nuôi cấy và phân loại những
mẫu vật này. Việc lấy mẫu khó khăn đă cản trở việc
nghiên cứu, t́m hiểu về sự đa dạng sinh học trong
môi trường đại dương, nơi rất giàu có về đa dạng
sinh học. Cả một ngành động vật mới, ngành
Loricifera, được biết đến lần đầu tiên năm 1983 nhờ
những mẫu vật lấy từ đáy biển sâu và sẽ không sai
lầm khi nói rằng hiện c̣n nhiều loài sinh vật vẫn
chưa được loài người phát hiện.
Khu rừng mưa nhiệt đới hẻo lánh ở bắc Trường Sơn nằm
ở biên giới giữa Lào và Việt Nam vừa mới được các
nhà sinh học để tâm nghiên cứu trong thời gian gần
đây.
Một điều kỳ diệu đă xảy ra, tại đây họ đă phát hiện
6 loài thú mới cho khoa học, đó là loài Mang lớn,
Sao la, Mang Trường Sơn, Mang Pù hoạt, Ḅ sừng xoắn,
Cầy Tây Nguyên (Linden, 1994; Đặng Huy Huỳnh, 1997;
Phạm B́nh Quyền, Trương Quang Học, 1997, 1998; Vơ
Quư, 1996, 1997).
Sự
tuyệt chủng là ǵ?
"Một
loài bị coi là tuyệt chủng khi không c̣n một cá thể
nào của loài đó c̣n sống sót tại bất kỳ nơi nào trên
thế giới".
Nếu như một số cá thể của loài c̣n sót lại chỉ nhờ
vào sự kiểm soát, chăm sóc, nuôi dưỡng của con
người, th́ loài này được gọi là đă bị tuyệt chủng
trong thiên nhiên hoang dă. Nhiều loài đă bị
tuyệt chủng trong thiên nhiên hoang dă nhưng vẫn
sống b́nh thường trong điều kiện nuôi nhốt. Do đó
h́nh thành hai khái niệm: Tuyệt chủng trên phạm
vi toàn cầu và tuyệt chủng cục bộ. Một số
nhà sinh học sử dụng thuật ngữ loài bị tuyệt
chủng về phương diện sinh thái học, điều đó có
nghĩa là số lượng loài c̣n lại ít đến nỗi tác động
của chúng không có chút ư nghĩa nào đối với các loài
khác trong quần xă. Ví dụ, loài hổ hiện nay bị tuyệt
chủng về phương diện sinh thái học, có nghĩa là số
hổ hiện c̣n trong thiên nhiên rất ít, tác động của
chúng đến quần thể động vật mồi là không đáng kể.
Khi quần thể của loài có số lượng cá thể dưới mức
báo động, nhiều khả năng loài sẽ bị tuyệt chủng. Đối
với một số quần thể trong tự nhiên, một vài cá thể
vẫn c̣n có thể sống sót dai dẳng vài năm, vài chục
năm, có thể vẫn sinh sản nhưng số phận cuối cùng vẫn
là sự tuyệt chủng (nếu không có sự can thiệp của
công nghệ sinh học). Để bảo tồn một loài nào đó
trước hết phải t́m được nguyên nhân chủ yếu dẫn đến
sự tuyệt chủng, phải xác định được con người đă làm
ǵ ảnh hưởng đến sự ổn định quần thể của loài và làm
cho loài bị tuyệt chủng.
Hoạt động đầu tiên của con người gây nên sự tuyệt
chủng là việc tiêu diệt các loài thú lớn tại châu
Úc, Bắc và Nam Mỹ cách đây hàng ngàn năm khi bắt đầu
chế độ thực dân tại những châu lục này. Trong một
thời gian rất ngắn, sau khi con người khai phá những
vùng đất này đă có từ 74% đến 86% các loài động vật
lớn (có trọng lượng cơ thể trên 44 kg) ở đây bị
tuyệt chủng mà một trong những nguyên nhân trực tiếp
là do việc săn bắt và gián tiếp do việc đốt, phá
rừng.
Sự
tuyệt chủng của các loài chim, thú được nghiên cứu
nhiều và dễ nhận biết. 99% sự tuyệt chủng của các
loài khác trên thế giới hiện nay chỉ là những dự báo
sơ bộ. Mặc dù vậy ngay cả với các loài thú và chim,
những số liệu về sự tuyệt chủng cũng không có những
con số chính xác, một số loài đă được xem là tuyệt
chủng vẫn được phát hiện lại, và một số loài tưởng
như vẫn c̣n tồn tại th́ rất có thể đă bị tuyệt
chủng.
Theo thống kê khoảng 85 loài thú và 113 loài chim đă
bị tuyệt chủng từ năm 1600, tương ứng 2,1% các loài
thú và 1,3% các loài chim. Tốc độ tuyệt chủng đối
với các loài thú và chim là khoảng 1 loài trong 10
năm tại thời điểm từ 1600-1700, nhưng tốc độ này
tăng dần lên đến 1 loài/năm vào thời gian từ
1850-1950. Rất nhiều loài về nguyên tắc vẫn chưa bị
tuyệt chủng nhưng đang tiếp tục là đối tượng săn bắt
của con người và chỉ c̣n tồn tại với một số lượng
rất ít như tê giác, hổ... ở Việt Nam. Những loài này
có thể coi như đă bị tuyệt chủng về phương diện sinh
thái học v́ số lượng của chúng ít đến nỗi không đóng
vai tṛ ǵ trong cơ cấu quần xă. Nguy cơ đối với các
loài cá nước ngọt và động vật thân mềm cũng đáng lo
ngại. Các loài thực vật cũng bị đe dọa, nhóm thực
vật hạt trần và cọ là những nhóm đặc biệt dễ bị
tuyệt chủng. Sự tuyệt chủng đáng ra chỉ là một quá
tŕnh tự nhiên, nhưng 99% số loài bị tuyệt chủng chủ
yếu do con người gây ra.
Trong lịch sử các thời kỳ địa lư trước đây đa dạng
sinh học tương đối ổn định nhờ sự cân bằng giữa sự
tiến hóa h́nh thành loài mới và sự tuyệt diệt loài
cũ. Tuy vậy, những hoạt động của con người đă làm
cho tốc độ tuyệt chủng vượt xa nhiều lần tốc độ h́nh
thành loài. Sự mất mát các loài xảy ra như trong
thời gian hiện nay đă không theo bất kỳ một quy luật
nào và hậu quả trong tương lai là khôn lường và
không thể nào cứu văn nổi.
Theo thống kê từ đầu thế kỷ XX, mỗi năm có một loài
sinh vật bị tuyệt chủng. Trong những năm của thập kỷ
80, mỗi giờ có một loài sinh vật bị biến mất. Dự
đoán trong thế kỷ tới, sẽ có khoảng 50 vạn đến một
triệu loài sinh vật không c̣n có mặt trên trái đất.
Rơ ràng là sự tuyệt chủng của các loài sinh vật đang
gia tăng. Trên thế giới, đă có những Công ước quốc
tế về bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ động thực vật
quư hiếm có tên trong Sách Đỏ. Ở Trung Quốc, cách
đây không lâu có người đă từng bị lĩnh án tử h́nh
chỉ v́ giết gấu mèo.
Tại sao con người lại phải quan tâm nhiều đến các
loài động thực vật sắp bị tuyệt chủng như vậy?
Mỗi loài động thực vật đều là sản phẩm của một quá
tŕnh tiến hoá rất lâu dài. Trong quá tŕnh đó, mỗi
loài đă tự tích luỹ cho riêng ḿnh những gien chống
chịu với bệnh tật, với sự thay đổi khí hậu và các
điều kiện sống khác. Do đó các sinh vật hoang dại
đều khoẻ mạnh, khó bị bệnh tật tiêu diệt và có khả
năng thích nghi cao. Đó là những ngân hàng gien sống
quư hiếm. Điều kiện sống thay đổi liên tục, nếu để
mất đi bất cứ loài nào, th́ thiên nhiên sẽ không bao
giờ có thể tái tạo lại được kiểu gen riêng của loài
đó.
Mỗi sinh vật có một vai tṛ nhất định trong hệ sinh
thái, là một mắt xích khép kín chu tŕnh tuần hoàn
vật chất của hệ. Hệ càng có nhiều loài, càng đa dạng
th́ càng bền vững. Mất đi một loài là giảm tính đa
dạng sinh học của cả hệ. Làm cho đời sau không c̣n
được chiêm ngưỡng chúng sống động nữa. Mỗi sinh vật
ẩn chứa trong ḿnh rất nhiều bí ẩn mà đời nay chưa
thể khám phá ra hết được. Làm mất đi một loài, là
chúng ta làm cho đời sau mất đi một đối tượng để
nghiên cứu, mất đi một h́nh mẫu lư tưởng để mô phỏng
theo.
Tóm lại, mỗi loài đều có vị trí và vai tṛ nhất định
trong tự nhiên mà loài khác không thể thay thế được.
Chính v́ thế mà con người cần đặc biệt quan tâm tới
các loài sắp bị tuyệt chủng.
Trên trái đất có khoảng 1 triệu loài côn trùng,
trong số đó, chỉ có 500 loài chuyên phá hoại lúa màu
và cây ăn quả. Tại Mỹ, mỗi năm sâu bọ phá huỷ tới
33% tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp (tương ứng
trên 14 tỉ đô la). Ở Trung Quốc mỗi năm sâu bọ gây
tổn thất 10% sản lượng lương thực, 33% sản lượng rau
xanh và 40% sản lượng các trái cây các loại. Côn
trùng c̣n là vật trung gian truyền bệnh đáng lo
ngại. Ví dụ như trên ḿnh con gián sống trong nhà,
người ta đă t́m thấy 14 loại vi khuẩn gây các bệnh
hen, viêm mũi, phổi, viêm kết mạc mắt, viêm dạ dày,
ruột non,...
Nhưng cũng có rất nhiều loài côn trùng có ích cho
con người. Chúng tiêu diệt các loại côn trùng có
hại, bảo vệ nông sản. Chúng được gọi là các loài
thiên địch có sẵn trong tự nhiên. Nghiă là các kẻ
thù của sâu hại, nhờ chúng, cây trồng được bảo vệ.
Trung Quốc đă thống kê được 700 loài thiên địch,
trong đó có 200 loài thường gặp.
Các loài côn trùng có ích tiêu diệt sâu hại bằng hai
cách: bắt mồi và kư sinh. Côn trùng có tính bắt mồi
như bọ rùa, chuồn cỏ, bọ ngựa... có thể ăn trứng,
sâu non của nhiều loài sâu có hại. Một con bọ rùa
chấm có thể ăn trên 130 con rệp muội mỗi ngày. Các
loài ong kén, ong mắt đỏ... thuộc loại ong kư sinh.
Ong mắt đỏ đẻ trứng vào trứng sâu hại, ong kén đẻ
trứng vào cơ thể sâu non và các loại ngài, bướm, ong
non sau khi nở ra sẽ ăn luôn trứng và sâu hại.
Con người từ lâu đă phát hiện ra khả năng quư báu
của các loài thiên địch này và t́m cách gây giống,
nuôi dưỡng, bảo vệ chúng. Sử dụng côn trùng để diệt
sâu hại có lợi rất lớn, bởi v́: Thứ nhất, nó tiêu
diệt có chọn lọc các loài sâu hại. Thứ hai, nó góp
phần hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu hoá học, do đó
giảm được ô nhiễm môi trường và không ảnh hưởng xấu
tới các loài côn trùng có lợi. Tuy nhiên, mỗi loài
côn trùng có ích chỉ tiêu diệt được một vài loài sâu
hại nhất định. Do đó cần phải có những hiểu biết sâu
sắc về các loài côn trùng th́ việc sử dụng phương
pháp thiên địch để diệt trừ sâu hại mới đạt kết quả
tốt.
Một số loài côn trùng có khả năng làm sạch môi
trường, như con bọ hung xấu xí chuyên ăn phân. Nước
Úc, khi nhập ḅ và cừu về nuôi đă phải nhập kèm
những con bọ hung như vậy từ Trung Quốc để dọn phân
ḅ, cừu.
Một số côn trùng có tác dụng cải tạo đất như giun,
dế... Giun đất ăn hỗn độn nhiều thứ đất, cát, xác
động, thực vật. Các thức ăn này được nghiền nát và
được phân huỷ một phần bởi các dịch tiêu hoá trong
ruột giun. Một phần chất dinh dưỡng được giun hấp
thụ. Phần c̣n lại sẽ thải ra ngoài dưới dạng các
viên đất - viên phân. Các con giun c̣n liên tục đào
xới đất, do đó chúng giúp cho đất luôn được tơi xốp,
vừa dễ dàng cho cây phát triển, vừa giữ được nước
làm đất luôn ẩm.
Tóm lại, trong số các côn trùng đang sống trên trái
đất có rất nhiều loài có ích, giúp diệt trừ côn
trùng có hại, cải tạo đất, bảo vệ môi trường và tạo
cân bằng sinh thái. Con người phải biết bảo vệ
chúng, tạo điều kiện cho chúng phát triển và phát
huy được tác dụng tích cực ở mức cao nhất.
Các quần xă sinh vật biến đổi rất đa dạng, từ một
vài quần xă không hề chịu tác động bởi các hoạt động
của con người, ví dụ như những quần xă trên thềm đáy
đại dương hay trong những vùng sâu, vùng xa rất hẻo
lánh của rừng nhiệt đới Amazôn tới những quần xă bị
biến đổi lớn như vùng khai mỏ, các vùng đất canh tác
nông nghiệp, khu công nghiệp, các thành phố và các
hồ nhân tạo. Tuy nhiên, cả ở những nơi xa xôi hẻo
lánh nhất của trái đất vẫn có ảnh hưởng của con
người do gia tăng nồng độ cacbonic và khai thác các
sản phẩm tự nhiên có giá trị, và ngược lại, cả ở
những nơi đă bị cải biến lớn vẫn c̣n sót lại những
quần xă sinh vật nguyên bản.
Tính đa dạng sinh học có thể c̣n hiện hữu trong một
số cánh rừng nhiệt đới được chặt chọn, những vùng
đại dương và biển bị đánh bắt quá mức. Khi một khu
bảo tồn được thành lập cần phải có sự ḥa hợp giữa
việc bảo tồn đa dạng sinh học và chức năng của các
hệ sinh thái với việc thỏa măn các nhu cầu trước mắt
cũng như lâu dài của cộng đồng dân cư địa phương và
của Chính phủ đối với các nguồn tài nguyên đó.
Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) đă xây
dựng một hệ thống phân loại các khu bảo tồn, trong
đó định rơ các mức độ sử dụng tài nguyên như sau:
Khu bảo tồn thiên nhiên
là những khu được bảo vệ nghiêm ngặt, chỉ dành
cho các hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo
và quan trắc môi trường. Các khu bảo tồn thiên
nhiên này cho phép ǵn giữ các quần thể của các
loài cũng như các quá tŕnh của hệ sinh thái
không hoặc ít bị nhiễu loạn.
Vườn quốc gia
là những khu vực rộng lớn có vẻ đẹp thiên nhiên
(ở biển hay ở đất liền) được ǵn giữ để bảo vệ
một hoặc vài hệ sinh thái trong đó, đồng thời
được dùng cho các mục đích giáo dục, nghiên cứu
khoa học, nghỉ ngơi giải trí và tham quan du
lịch. Tài nguyên ở đây thường không được phép
khai thác cho mục đích thương mại.
Khu dự trữ thiên nhiên
là những công tŕnh quốc gia, có diện tích hẹp
hơn được thiết lập nhằm bảo tồn những đặc trưng
về sinh học, địa lư, địa chất hay văn hoá của
một địa phương nào đó.
Khu quản lư nơi cư trú của sinh vật hoang dă
có những điểm tương tự với các khu bảo tồn
nghiêm ngặt nhưng cho phép duy tŕ một số hoạt
động để đảm bảo nhu cầu đặc thù của cộng đồng.
Khu bảo tồn cảnh quan trên đất liền và trên biển
được thành lập nhằm bảo tồn các cảnh quan. Ở đây
cho phép khai thác, sử dụng tài nguyên theo cách
cổ truyền, không có tính phá hủy, đặc biệt tại
những nơi mà việc khai thác, sử dụng tài nguyên
đă h́nh thành nên những đặc tính văn hóa, thẩm
mỹ và sinh thái học đặc sắc. Những nơi này tạo
nhiều cơ hội phát triển cho ngành du lịch và
nghỉ ngơi giải trí.
Khu bảo vệ nguồn lợi
được thành lập để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
cho tương lai. Ở đây việc khai thác, sử dụng tài
nguyên được kiểm soát phù hợp với các chính sách
quốc gia.
Các khu bảo tồn sinh quyển và các khu dự trữ
nhân chủng học
được thành lập để bảo tồn nhưng vẫn cho phép các
cộng đồng truyền thống được quyền duy tŕ cuộc
sống của họ mà không có sự can thiệp từ bên
ngoài. Thông thường, cộng đồng trong một chừng
mực nhất định vẫn được phép khai thác các tài
nguyên để đảm bảo cuộc sống của chính họ. Các
phương thức canh tác truyền thống thường vẫn
được áp dụng để sản xuất nông nghiệp.
Các khu quản lư đa dụng
cho phép sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên
thiên nhiên, trong đó có tài nguyên nước, động
vật hoang dă, chăn nuôi gia súc, gỗ, du lịch và
đánh bắt cá. Hoạt động bảo tồn các quần xă sinh
học thường được thực hiện cùng với các hoạt động
khai thác một cách hợp lư.
Năm loại h́nh đầu tiên nêu trên có thể coi là những
khu bảo tồn thực sự, trong đó các nơi cư trú chủ yếu
được quản lư v́ mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học.
Mục đích đầu tiên cho các khu trong ba loại h́nh c̣n
lại không phải là để quản lư đa dạng sinh học, mà là
mục tiêu thứ yếu. Các khu quản lư này đôi khi có ư
nghĩa và có tính đa dạng sinh học khá phong phú, đặc
biệt quan trọng v́ chúng thường rộng lớn hơn các khu
bảo tồn rất nhiều.
Hiện nay, Chính phủ Việt Nam đang rà soát, sắp xếp
lại hệ thống các khu bảo tồn gồm 11 Vườn Quốc gia,
61 khu Bảo tồn thiên nhiên và 34 khu rừng Văn hoá -
Lịch sử - Môi trường. Các Vườn quốc gia của Việt Nam
có: Vườn quốc gia Ba Bể (Cao Bằng); Vườn quốc gia Ba
V́ (Hà Tây); Vườn quốc gia Bạch Mă (Thừa Thiên Huế);
Vườn quốc gia Bến En (Thanh Hoá); Vườn quốc gia Cát
Bà (Hải Pḥng); Vườn quốc gia Cát Tiên (Đồng Nai);
Vườn quốc gia Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu); Vườn quốc
gia Cúc Phương (Ninh B́nh, Hoà B́nh, Thanh Hoá);
Vườn quốc gia Tam Đảo (Vĩnh Phú, Bắc Thái, Tuyên
Quang); Vườn quốc gia YokDon (DăkLăk); Vườn quốc gia
Tràm Chim (Đồng Tháp).
Hiện nay trên thế giới hầu như nước nào cũng quy
hoạch xây dựng các khu bảo vệ tự nhiên bao gồm các
phong cảnh thiên nhiên độc đáo, các hệ thống sinh
thái điển h́nh, rừng nguyên thủy, khu bảo tồn các
sinh vật quí hiếm,... Các khu vực bảo vệ tự nhiên
vừa là nơi bảo vệ hệ thống sinh thái tự nhiên vừa là
thư viện sống về các loài sinh vật hoang dă. Mục
đích xây dựng các khu bảo vệ tự nhiên là nhằm bảo vệ
một số hệ sinh thái tự nhiên tiêu biểu, động thực
vật quí hiếm, cảnh quan tự nhiên kỳ thú và các di
tích lịch sử nổi tiếng, tránh sự phá hoại của con
người, giúp các nhà khoa học có điều kiện nghiên cứu
khoa học và là nơi dạy học, thực tập lư tưởng cho
các nhà khoa học trẻ tuổi.
Các khu bảo vệ tự nhiên c̣n là nơi tham quan giải
trí cho dân chúng và khách du lịch, đồng thời trên
cơ sở không ảnh hưởng tới mục đích bảo vệ, con người
có thể khai thác từng phần nguồn tài nguyên quí báu
của thiên nhiên để phát triển sản xuất. Qua đó chúng
ta có thể thấy việc xây dựng các khu bảo vệ tự nhiên
có ư nghĩa rất quan trọng đối với việc phát triển
khoa học, văn hoá, bảo vệ môi trường và thúc đẩy sản
xuất.
Trong các quan hệ trên 2 loại quan hệ giữ vai tṛ
quan trọng trong việc duy tŕ cân bằng sinh thái tự
nhiên là quan hệ thú dữ - con mồi và quan hệ kư
sinh. Quan hệ thú dữ - con mồi giúp cho quần thể con
mồi duy tŕ tính chống chịu cao với thiên nhiên,
không phát triển bùng nổ về số lượng cá thể. Quan hệ
kư sinh giúp cho việc diệt trừ sâu bệnh và các loài
có hại đối với con người giữ cho số lượng sâu bệnh
nằm trong giới hạn nhất định.
Con người là một sinh vật của hệ sinh thái có số
lượng lớn và khả năng hoạt động được nâng cao nhờ
khoa học kỹ thuật. Tác động của con người đối với hệ
sinh thái rất lớn, có thể phân ra các loại tác động
chính sau đây:
Tác động vào cơ
chế tự ổn định, tự cân bằng của hệ sinh thái
Cơ
chế của hệ sinh thái tự nhiên là tiến tới tỷ lệ P/Rằ
1; P/Bằ 0. Cơ chế này
không có lợi cho con người, v́ con người cần tạo ra
năng lượng cần thiết cho ḿnh bằng cách tạo ra hệ
sinh thái có P/R > 1 và P/B > 0. Do vậy, con người
thường tạo ra các hệ sinh thái nhân tạo (đồng cỏ
chăn nuôi, đất trồng lương thực thực phẩm). Các hệ
sinh thái này thường kém ổn định. Để duy tŕ các hệ
sinh thái nhân tạo, con người phải bổ sung thêm năng
lượng dưới dạng sức lao động, xăng dầu, phân bón.
Con người sử dụng năng lượng hoá thạch, tạo thêm một
lượng lớn khí CO2, SO2 v.v....
Mỗi năm con người tạo thêm 550 tỷ tấn CO2
do đốt các loại nhiên liệu hoá thạch đang làm thay
đổi cân bằng sinh thái tự nhiên của trái đất, dẫn
tới việc thay đổi chất lượng và quan hệ của các
thành phần môi trường tự nhiên. Đồng thời, các hoạt
động của con người trên trái đất ngăn cản chu tŕnh
tuần hoàn nước, ví dụ đắp đập, xây nhà máy thuỷ
điện, phá rừng đầu nguồn v.v... Việc này có thể gây
ra úng ngập hoặc khô hạn nhiều khu vực, thay đổi
điều kiện sống b́nh thường của các sinh vật nước
v.v...
Sinh học bảo tồn ra đời v́ các khoa học ứng dụng
truyền thống không c̣n đủ cơ sở để giải thích những
mối đe dọa cấp bách đối với đa dạng sinh học. Nông
nghiệp, lâm nghiệp, quản lư động vật hoang dă, sinh
học thủy sản,... chủ yếu quan tâm đến vấn đề xây
dựng các phương pháp quản lư một số ít các loài có
giá trị kinh tế và làm cảnh. Những khoa học này
thường không đề cập đến việc bảo vệ tất cả các loài
có thể có trong các quần xă sinh vật, hoặc chỉ đề
cập như là vấn đề không quan trọng. Sinh học bảo tồn
bổ sung các nguyên tắc ứng dụng bằng cách cung cấp
phương pháp tiếp cận có tính chất lư thuyết tổng thể
cho việc bảo tồn đa dạng sinh học. Sinh học bảo tồn
khác với các khoa học khác ở chỗ là bảo tồn một cách
lâu dài toàn bộ các quần xă sinh vật là chính, các
yếu tố kinh tế thường là thứ yếu. Các khoa học kinh
điển như sinh học quần thể, phân loại học, sinh thái
học, và di truyền học... là nội dung cơ bản của sinh
học bảo tồn.
Rừng là lá phổi xanh của trái đất. Cây xanh, trong
quá tŕnh quang hợp, hấp thụ khí cacbonic và nhả ra
khí ôxy cần thiết cho sự sống.
Rừng có tác dụng làm trong sạch không khí. Tán lá
cản và giữ bụi. Lá cây tiết ra nhiều loại chất kháng
khuẩn có tác dụng tiêu diệt vi trùng gây bệnh trong
không khí.
Rừng là nơi sinh sống của nhiều loài động vật hoang
dă, trong đó có nhiều loài quư hiếm. Trong rừng có
nhiều loại cây khác nhau. Đây là nguồn thực phẩm,
nguồn nguyên liệu quư cho công nghiệp và dược phẩm,
là nguồn gen hoang dại có giá trị trong lai tạo
giống mới cho nông nghiệp và chăn nuôi.
Rừng bảo vệ và cải tạo đất. Nhờ có tán lá xoè rộng
như chiếc ô, nước mưa không xối thẳng xuống mặt đất,
nắng không đốt cháy mặt đất, nên lớp đất trên mặt
khó bị rửa trôi theo nước mưa. Rừng nuôi đất, bồi bổ
cho đất.
Đất rừng hầu như tự bón phân, v́ cành lá rơi rụng từ
cây sẽ bị phân huỷ, tạo thành các chất dinh dưỡng,
làm tăng độ màu mỡ của đất. Đất ph́ nhiêu, tơi xốp
sẽ thấm tốt, giữ nước tốt và hạn chế xói ṃn. Vùng
băi triều ven biển có các rừng sú, vẹt, đước, vừa
chắn sóng, vừa giữ phù sa, làm cho bờ biển không
những không bị xói, mà c̣n được bồi đắp và tiến ra
phía trước.
Rừng có tác dụng điều hoà ḍng chảy trong sông ng̣i
và dưới đất. Nước mưa rơi xuống vùng có rừng bị giữ
lại nhiều hơn trong tán cây và trong đất, do đó
lượng ḍng chảy do mưa trong mùa lũ giảm đi. Rừng
cản không cho ḍng chảy mặt chảy quá nhanh, làm cho
lũ xuất hiện chậm hơn, giảm mức độ đột ngột và ác
liệt của từng trận lũ. Nước thấm xuống đất rừng vừa
là nguồn dự trữ nuôi cây và các sinh vật sống trong
đất, vừa chảy rất chậm về nuôi các sông trong thời
gian không mưa. Do đó những vùng có nhiều rừng che
phủ sẽ giảm bớt được thiên tai hạn hán và lũ lụt.
Rừng càng nằm gần đầu nguồn sông, tác dụng điều hoà
ḍng chảy càng lớn hơn.
Rừng có giá trị lớn về du lịch. V́ rừng có nhiều
phong cảnh đẹp, với nhiều loại động thực vật hoang
dă, lôi cuốn sự ham hiểu biết, trí ṭ ṃ của mọi
người. Khí hậu trong rừng mát mẻ, điều hoà, không
khí sạch sẽ c̣n có tác dụng chữa bệnh rất tốt.
Nói tóm lại, rừng có giá trị nhiều mặt cho con
người. V́ các nhu cầu ngày càng tăng của ḿnh, con
người không thể không khai thác rừng. Tuy nhiên, nếu
biết khai thác một cách hợp lư và có kế hoạch trồng
rừng thích hợp, chúng ta sẽ vẫn vừa thoả măn được
các nhu cầu của ḿnh, vừa không làm tổn hại đến
rừng.
Trái đất ngày xưa phủ kín một màu xanh của cây cối.
Hồi đầu thế kỷ này ngay Hà Nội của chúng ta cũng c̣n
nằm sát rừng. Vậy mà bây giờ rừng đă lùi xa khỏi các
điểm tập trung dân cư. Chỉ tính riêng ở vùng Hà Nội,
trung b́nh mỗi năm rừng lùi xa khỏi chúng ta khoảng
1 km. V́ sao vậy?
Rừng bị chặt phá trước tiên là để lấy đất làm nông
nghiệp, trồng cây công nghiệp, nuôi thuỷ sản, xây
dựng... Những vùng đất bằng phẳng, màu mỡ bị chuyển
hoá thành đất nông nghiệp c̣n có thể trồng trọt được
lâu dài. Hiện nay, những vùng như vậy hầu như đă bị
khai thác hết. C̣n những vùng đất dốc, kém ph́
nhiêu, sau khi bị chuyển đổi thành đất nông nghiệp,
thường cho năng suất thấp, rất dễ và nhanh bị bạc
màu, hoặc đ̣i hỏi phải có những đầu tư tốn kém cho
tưới tiêu và cải tạo đất. Rừng ngập mặn ven biển của
Việt Nam đang bị chặt phá để làm ao nuôi tôm. Do
nuôi tôm kiểu quảng canh, không đúng kỹ thuật, nên
năng suất không cao và mỗi ao cũng chỉ cho thu hoạch
được vài năm, sau đó người ta lại đi chặt phá rừng
làm ao mới. Rừng Tây Nguyên đang bị người dân di cư
tự phát đốt phá nham nhở.
Nguyên nhân thứ hai dẫn đến mất rừng là lấy gỗ làm
củi đốt. Cho đến thế kỷ XIX, trước khi khám phá ra
khả năng đốt bằng than và dầu, chất đốt chủ yếu của
con người là củi gỗ. Nhiều nước châu Âu, trong giai
đoạn đầu của cách mạng khoa học kỹ thuật đă đốt gần
hết rừng của ḿnh. Hiện nay, ở nhiều nơi trên thế
giới, củi và than củi vẫn là chất đốt chính trong
gia đ́nh và các bếp đun đang đốt khoảng 1/4 số diện
tích rừng bị tàn phá hàng năm.
Nguyên nhân thứ ba gây mất rừng là do khai thác gỗ.
Gỗ cần cho sản xuất các đồ gia dụng, sản xuất
giấy... Khoa học kỹ thuật càng phát triển, người ta
càng khám phá ra nhiều công dụng mới của gỗ, làm cho
lượng gỗ tiêu thụ ngày càng nhiều. Trong khai thác
gỗ, nếu chỉ chạy theo lợi nhuận, chỗ nào dễ th́ khai
thác trước, không đốn tỉa mà chặt hạ trắng, nghĩa là
chặt từ b́a rừng vào, vừa chặt cây to để lấy gỗ, vừa
phá hoại cây con, th́ những khu vực rừng đă bị chặt
phá sẽ khó cơ hội tự phục hồi lại được.
Nguyên nhân thứ tư gây mất rừng là do cháy. Rừng bị
cháy do đốt rừng làm nương, làm băi săn bắn, dùng
lửa thiếu thận trọng trong rừng, thiên tai, chiến
tranh... Trong mùa khô, chỉ cần một mẩu tàn thuốc lá
cháy dở, một bùi nhùi lửa đuổi ong ra khỏi tổ để lấy
mật cũng đủ gây ra một đám cháy rừng lớn trong nhiều
ngày, nhất là khi không có đủ nước, nhân lực và
phương tiện để dập tắt lửa.
Chiến tranh không phải là hiện tượng phổ biến,
thường xuyên. Tuy nhiên các cuộc chiến tranh thường
có sức tàn phá ghê gớm. Ở Việt Nam, từ 1945 cho đến
nay mất khoảng hơn 2 triệu hecta. Nhiều vùng rừng bị
chất độc hoá học tàn phá đến nay vẫn chưa mọc lại
được.
Nói tóm lại, có năm nguyên nhân chính gây mất rừng
là lấy đất, lấy gỗ, lấy củi, cháy rừng và chiến
tranh. Trong đó mất rừng do cháy và chiến tranh là
sự mất mát phi lư nhất, v́ nó chẳng đem lại điều ǵ
tốt đẹp cho con người. Việc phá rừng lấy đất, lấy
gỗ, củi bừa băi thực tế chỉ nhằm phục vụ cho lợi ích
của một số cá nhân nào đó. Cái lợi mà việc làm đó
đem lại nhỏ hơn nhiều so với cái hại mà nó gây ra.
V́ mất rừng là trái đất mất cỗ máy sản xuất ôxy,
động vật mất nơi cư trú, nhiều loại cây quí, lâu năm
bị tuyệt giống, lũ lụt và hạn hán trở nên trầm trọng
hơn... Hy vọng rằng bằng việc áp dụng thành công các
tiến bộ khoa học kỹ thuật và sử dụng tiết kiệm, hợp
lư tài nguyên đất, rừng, tăng cường trồng và bảo vệ
rừng, diện tích rừng trên trái đất sẽ không bị giảm
có thể tăng lên.
Theo tính toán của các nhà khoa học, các hàng cây
với khoảng cách phù hợp sẽ cản được 30% tốc độ gió
và có khả năng bảo vệ phạm vi đất đai gấp hơn 2 lần
chiều cao của cây. Ở những nơi có gió cát và hạn hán
nghiêm trọng, việc trồng những hàng cây phi lao ngăn
gió cát rất có tác dụng cải thiện môi trường sinh
thái đất đai.
Rừng là chiếc ô bảo vệ mặt đất. Khi trớ mưa, do tán
lá cây hứng đỡ nên nước mưa không trực tiếp xối
xuống mặt đất, điều này có ư nghĩa rất lớn đối với
việc pḥng chống xói ṃn. Thực tế cho thấy, nếu nước
mưa trực tiếp xối vào mặt đất th́ mỗi năm một hecta
đất trồng hoa bị xói ṃn 20 tấn, đất trồng cỏ bị xói
ṃn 1 tấn, trong khi đó đất trồng rừng chỉ bị xói
ṃn 0,1 tấn. Mặt đất trong rừng có nhiều cành và lá
cây khô, nước mưa rơi xuống mặt đất không thể xối
thằng vào đất, cũng không thể chảy nhanh mà ngầm
chảy từ từ. Đó là vật cản quan trọng khiến mưa to
không gây ra lũ lụt và rất có ích đối với việc bảo
vệ đồng ruộng, nhà cửa.
Cây cối cũng là những "anh hùng" hút bụi, chống ô
nhiễm. Lá của một số loại cây có những nếp nhăn, có
lông nhám, thậm chí có loại lá c̣n tiết ra chất
"nhựa" diệt vi khuẩn. V́ vậy cây cối vừa có khả năng
hút bụi vừa có khả năng tiêu diệt vi khuẩn. Ngay như
cây thông, tuy có diện tích bề mặt lá rất nhỏ, nhưng
khả năng hút bụi và diệt vi khuẩn lại rất lớn. Ta có
thể nhận biết khả năng hút bụi diệt khuẩn của cây
cối qua việc giám định không khí trong công viên và
trong cửa hàng bách hoá hoặc bến tàu xe. Mỗi mét
khối không khí trong công viên chỉ có 2.000-3.000 vi
khuẩn, nhưng một mét khối không khí trong cửa hàng,
bến tàu xe có tới 20.000-30.000 con.
Hiện nay, trên thế giới lượng khí cacbonic thải ra
ngày một tăng. Biện pháp duy nhất để giải quyết vấn
đề này là trồng nhiều cây xanh, v́ cây xanh có khả
năng hấp thụ khí cacbonic. Trung b́nh 1 hecta cây
tán lá rộng có thể hấp thụ được 1 tấn khí
cacbonic/ngày và nhả ra 730kg khí oxy. Lượng khí
cacbonic do 1 người thải ra trong 1 ngày sẽ được 10m2
cây xanh hút hết. Ngoài ra cây xanh c̣n hấp thụ
tiếng ồn, hấp thụ một số chất ô nhiễm trong không
khí và một số nguyên tố kim loại nặng trong đất.
Việc ǵ có lợi cho con người là cây xanh đều cố sức
phụng sự rất tận tụy, xứng đáng là vệ sĩ trung thành
của loài người.
Cây xanh có khả năng rất lớn trong việc chống gió,
giữ nước, chống ô nhiễm, nhưng khả năng tự bảo vệ
của chúng lại có hạn. Chúng cần sự che chở bảo vệ
của con người. Cây xanh cống hiến cho con người quá
nhiều, chúng ta cần yêu mến và trân trọng bảo vệ
chúng.
Tài nguyên là ǵ? Có những loại tài nguyên nào?
"Tài
nguyên là tất cả các dạng vật chất, tri thức được sử
dụng để tạo ra của cải vật chất, hoặc tạo ra giá trị
sử dụng mới của con người".
Tài nguyên là đối tượng sản xuất của con người. Xă
hội loài người càng phát triển, số loại h́nh tài
nguyên và số lượng mỗi loại tài nguyên được con
người khai thác ngày càng tăng.
Tài nguyên con người (tài nguyên xă hội) là một dạng
tài nguyên tái tạo đặc biệt, thể hiện bởi sức lao
động chân tay và trí óc, khả năng tổ chức và chế độ
xă hội, tập quán, tín ngưỡng của các cộng đồng
người.
Sự
phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đang làm
thay đổi giá trị của nhiều loại tài nguyên. Nhiều
tài nguyên cạn kiệt trở nên quư hiếm; nhiều loại tài
nguyên giá trị cao trước đây nay trở thành phổ biến,
giá rẻ do t́m được phương pháp chế biến hiệu quả
hơn, hoặc được thay thế bằng loại khác. Vai tṛ và
giá trị của tài nguyên thông tin, văn hoá lịch sử
đang tăng lên.
Một hecta rừng hàng năm tạo nên sinh khối khoảng 300
- 500 kg, 16 tấn oxy (rừng thông 30 tấn, rừng trồng
3 - 10 tấn). Mỗi người một năm cần 4.000kg O2
tương ứng với lượng oxy do 1.000 - 3.000 m2
cây xanh tạo ra trong năm. Nhiệt độ không khí rừng
thường thấp hơn nhiệt độ đất trống khoảng 3 - 5oC.
Rừng bảo vệ và ngăn chặn gió băo. Hệ số ḍng chảy
mặt trên đất có độ che phủ 35% lớn hơn đất có độ che
phủ 75% hai lần. Lượng đất xói ṃn của rừng bằng 10%
lượng đất xói ṃn từ vùng đất không có rừng. Rừng là
nguồn gen vô tận của con người, là nơi cư trú của
các loài động thực vật quư hiếm. V́ vậy, tỷ lệ đất
có rừng che phủ của mỗi quốc gia là một chỉ tiêu
đánh giá chất lượng môi trường quan trọng. Diện tích
đất có rừng của một quốc gia tối ưu phải đạt 45%
tổng diện tích.
Tài nguyên rừng trên trái đất ngày càng bị thu hẹp
về diện tích và trữ lượng.
Tốc độ mất rừng hàng năm trên thế giới là 20 triệu
ha, trong đó rừng nhiệt đới bị mất là lớn nhất, năm
1990 châu Phi và Mỹ La Tinh c̣n 75% diện tích rừng
nhiệt đới, châu Á c̣n 40%. Theo dự báo đến năm 2010
rừng nhiệt đới chỉ c̣n 20 - 25% ở một số nước châu
Phi, châu Mỹ La Tinh và Đông Nam Á. Rừng ôn đới
không giảm về diện tích nhưng chất lượng và trữ
lượng gỗ bị suy giảm đáng kể do ô nhiễm không khí.
Theo tính toán giá trị kinh tế rừng ở châu Âu giảm
30 tỷ USD/năm.
Việt Nam năm 1943 có 13,3 triệu ha rừng, chiếm 43,8%
diện tích đất, hiện nay c̣n 8,5 triệu ha chiếm
23,8%, trong đó 2,8 triệu ha rừng pḥng hộ, 5,2
triệu ha rừng sản xuất, 0,7 triệu ha rừng đặc dụng.
Tốc độ mất rừng ở Việt Nam là 200.000 ha/năm, trong
đó 60.000 ha do khai hoang, 50.000 ha do cháy và
90.000 ha do khai thác gỗ quá mức. Riêng khu vực
Quảng Ninh, tốc độ mất rừng là 2,8% năm. Mặt khác,
trữ lượng gỗ và chất lượng rừng đang bị suy giảm.
Để
bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng Việt Nam, Nhà
nước cần áp dụng các chính sách sau:
"Tài
nguyên khoáng sản là tích tụ vật chất dưới dạng hợp
chất hoặc đơn chất trong vỏ trái đất, mà ở điều kiện
hiện tại con người có đủ khả năng lấy ra các nguyên
tố có ích hoặc sử dụng trực tiếp chúng trong đời
sống hàng ngày".
Tài nguyên khoáng sản thường tập trung trong một khu
vực gọi là mỏ khoáng sản. Tài nguyên khoáng sản có ư
nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế của
loài người và khai thác sử dụng tài nguyên khoáng
sản có tác động mạnh mẽ đến môi trường sống. Một
mặt, tài nguyên khoáng sản là nguồn vật chất để tạo
nên các dạng vật chất có ích và của cải của con
người. Bên cạnh đó, việc khai thác tài nguyên khoáng
sản thường tạo ra các loại ô nhiễm như bụi, kim loại
nặng, các hoá chất độc và hơi khí độc (SO2,
CO, CH4 v.v...).
Tài nguyên khoáng sản được phân loại theo nhiều
cách:
Than đá
là nguồn năng lượng chủ yếu của loài người với tổng
trữ lượng trên 700 tỷ tấn, có khả năng đáp ứng nhu
cầu con người khoảng 180 năm. Tuy nhiên, các vấn đề
môi trường hiện nay đang tồn tại:
Thuỷ năng
được gọi là năng lượng sạch. Tổng trữ lượng thế giới
2.214.000 MW, riêng Việt Nam 30.970 MW chiếm 1,4%
tổng trữ lượng thế giới. Tuy nhiên, việc xây dựng
các hồ chứa nước lớn tạo ra các tác động môi trường
như động đất kích thích, thay đổi khí hậu thời tiết
khu vực, mất đất canh tác, tạo ra lượng CH4
do phân huỷ chất hữu cơ ḷng hồ, tạo ra các biến đổi
thuỷ văn hạ lưu, tăng độ mặn nước sông, ảnh hưởng
đến sự phát triển của các quần thể cá trên sông,
tiềm ẩn tai biến môi trường.
Năng lượng hạt nhân
là nguồn năng lượng giải phóng trong quá tŕnh phân
huỷ hạt nhân các nguyên tố U, Th hoặc tổng hợp nhiệt
hạch. Theo tính toán năng lượng giải phóng ra từ 1g
U235 tương đương với năng lượng do đốt 1
tấn than đá. Nguồn năng lượng hạt nhân có ưu điểm
không tạo nên các loại khí nhà kính như CO2,
bụi. Tuy nhiên, các nhà máy điện hạt nhân hiện nay
là nguồn gây nguy hiểm lớn về môi trường do chất
thải phóng xạ, khí, rắn, lỏng và các sự cố nhà máy.
Sự cố tại nhà máy điện hạt nhân Checnobưn Liên Xô là
một ví dụ điển h́nh.
Các nguồn năng lượng khác
bao gồm các loại:
"Tài
nguyên khí hậu và cảnh quan bao gồm các yếu tố về
thời tiết khí hậu (khí áp, nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ
mặt trời, lượng mưa...) địa h́nh, không gian
trống..."
Các yếu tố khí hậu có vai tṛ to lớn trong đời sống
và sự phát triển của sinh vật và con người. Tác động
của khí hậu đến con người trước hết thông qua nhịp
điệu của chu tŕnh sống: nhịp điệu ngày đêm, nhịp
điệu mùa trong năm, nhịp điệu tháng và tuần trăng.
Các nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy t́nh
trạng sức khoẻ, tốc độ phát triển của sinh vật phụ
thuộc vào thời điểm của các chu tŕnh sống trên.
Cường độ và đặc điểm của bức xạ mặt trời có tác động
mạnh mẽ tới sự phát triển của sinh vật và tăng
trưởng sinh khối.
Khí hậu thời tiết có ảnh hưởng mạnh mẽ tới t́nh
trạng sức khoẻ con người, tạo ra sự tăng độ tử vong
ở một số bệnh tim mạch, các loại bệnh tật theo mùa
v.v... Trong giai đoạn phát triển hiện nay của nền
kinh tế và giao lưu xă hội, khí hậu, thời tiết đang
trở thành một dạng tài nguyên vật chất quan trọng
của con người. Khí hậu thời tiết thích hợp tạo ra
các khu vực du lịch, nuôi trồng một số sản phẩm động
thực vật có giá trị kinh tế cao (hoa, cây thuốc, các
nguồn gen quư hiếm khác.)
Địa h́nh cảnh quan là một dạng tài nguyên mới; nó
tạo ra không gian của môi trường bảo vệ, môi trường
nghỉ ngơi. Địa h́nh hiện tại của bề mặt trái đất là
sản phẩm của các quá tŕnh địa chất lâu dài (nội
sinh, ngoại sinh). Các loại h́nh thái chính của địa
h́nh là đồi núi, đồng bằng, địa h́nh Karst, địa h́nh
ven bờ, các kho nước lớn (biển, sông, hồ). Mỗi loại
h́nh thái địa h́nh chứa đựng những tiềm năng phát
triển kinh tế đặc thù. Thí dụ phát triển du lịch,
phát triển nông, lâm, công nghiệp v.v...
"Quản
lư môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp,
chính sách kinh tế, kỹ thuật, xă hội thích hợp nhằm
bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền
vững kinh tế xă hội quốc gia".
Các mục tiêu chủ yếu của công tác quản lư nhà nước
về môi trường bao gồm:
Nguyên lư về tính thống nhất vật chất thế giới gắn
tự nhiên, con người và xă hội thành một hệ thống
rộng lớn "Tự nhiên - Con người - Xă hội", trong đó
yếu tố con người giữ vai tṛ rất quan trọng. Sự
thống nhất của hệ thống trên được thực hiện trong
các chu tŕnh sinh địa hoá của 5 thành phần cơ bản:
Tính thống nhất của hệ thống "Tự nhiên - Con người -
Xă hội" đ̣i hỏi việc giải quyết vấn đề môi trường và
thực hiện công tác quản lư môi trường phải toàn diện
và hệ thống. Con người nắm bắt cội nguồn sự thống
nhất đó, phải đưa ra các phương sách thích hợp để
giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong hệ thống đó.
V́ chính con người đă góp phần quan trọng vào việc
phá vỡ tất yếu khách quan là sự thống nhất giữa tự
nhiên - con người - xă hội. Sự h́nh thành những
chuyên ngành khoa học như quản lư môi trường, sinh
thái nhân văn là sự t́m kiếm của con người nhằm nắm
bắt và giải quyết các mâu thuẫn, tính thống nhất của
hệ thống "Tự nhiên - Con người - Xă hội".
Quản lư môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật
pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xă hội thích hợp
nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển
bền vững kinh tế xă hội quốc gia. Các nguyên tắc
quản lư môi trường, các công cụ thực hiện việc giám
sát chất lượng môi trường, các phương pháp xử lư môi
trường bị ô nhiễm được xây dựng trên cơ sở sự h́nh
thành và phát triển ngành khoa học môi trường.
Nhờ sự tập trung quan tâm cao độ của các nhà khoa
học thế giới, trong thời gian từ năm 1960 đến nay
nhiều số liệu, tài liệu nghiên cứu về môi trường đă
được tổng kết và biên soạn thành các giáo tŕnh,
chuyên khảo. Trong đó, có nhiều tài liệu cơ sở,
phương pháp luận nghiên cứu môi trường, các nguyên
lư và quy luật môi trường.
Nhờ kỹ thuật và công nghệ môi trường, các vấn đề ô
nhiễm do hoạt động sản xuất của con người đang được
nghiên cứu, xử lư hoặc pḥng tránh, ngăn ngừa. Các
kỹ thuật phân tích, đo đạc, giám sát chất lượng môi
trường như kỹ thuật viễn thám, tin học được phát
triển ở nhiều nước phát triển trên thế giới.
Tóm lại, quản lư môi trường cầu nối giữa khoa học
môi trường với hệ thống tự nhiên - con người - xă
hội đă được phát triển trên nền phát triển của các
bộ môn chuyên ngành.
Quản lư môi trường được h́nh thành trong bối cảnh
của nền kinh tế thị trường và thực hiện điều tiết xă
hội thông qua các công cụ kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động phát triển
và sản xuất của cải vật chất diễn ra dưới sức ép của
sự trao đổi hàng hoá theo giá trị. Loại hàng hoá có
chất lượng tốt và giá thành rẻ sẽ được tiêu thụ
nhanh. Trong khi đó, loại hàng hoá kém chất lượng và
đắt sẽ không có chỗ đứng. V́ vậy, chúng ta có thể
dùng các phương pháp và công cụ kinh tế để đánh giá
và định hướng hoạt động phát triển sản xuất có lợi
cho công tác bảo vệ môi trường.
Các công cụ kinh tế rất đa dạng gồm các loại thuế,
phí và lệ phí, cota ô nhiễm, quy chế đóng góp có bồi
hoàn, trợ cấp kinh tế, nhăn sinh thái, hệ thống các
tiêu chuẩn ISO. Một số ví dụ về phân tích kinh tế
trong quản lư tài nguyên và môi trường như lựa chọn
sản lượng tối ưu cho một hoạt động sản xuất có sinh
ra ô nhiễm Q nào đó, hoặc xác định mức khai thác hợp
lư tài nguyên tái tạo v.v...
Cơ
sở luật pháp của quản lư môi trường là các văn bản
về luật quốc tế và luật quốc gia về lĩnh vực môi
trường.
Luật quốc tế về môi trường là tổng thể các nguyên
tắc, quy phạm quốc tế điều chỉnh mối quan hệ giữa
các quốc gia, giữa quốc gia và tổ chức quốc tế trong
việc ngăn chặn, loại trừ thiệt hại gây ra cho môi
trường của từng quốc gia và môi trường ngoài phạm vi
tàn phá quốc gia. Các văn bản luật quốc tế về môi
trường được h́nh thành một cách chính thức từ thế kỷ
XIX và đầu thế kỷ XX, giữa các quốc gia châu Âu,
châu Mỹ, châu Phi. Từ hội nghị quốc tế về "Môi
trường con người" tổ chức năm 1972 tại Thuỵ Điển và
sau Hội nghị thượng đỉnh Rio 92 có rất nhiều văn bản
về luật quốc tế được soạn thảo và kư kết. Cho đến
nay đă có hàng ngh́n các văn bản luật quốc tế về môi
trường, trong đó nhiều văn bản đă được chính phủ
Việt Nam tham gia kư kết.
Trong phạm vi quốc gia, vấn đề môi trường được đề
cập trong nhiều bộ luật, trong đó Luật Bảo vệ Môi
trường được quốc hội nước Việt Nam thông qua ngày
27/12/1993 là văn bản quan trọng nhất. Chính phủ đă
ban hành Nghị định 175/CP ngày 18/10/1994 về hướng
dẫn thi hành Luật Bảo vệ Môi trường và Nghị định
26/CP ngày 26/4/1996 về Xử phạt vi phạm hành chính
về bảo vệ môi trường. Bộ Luật h́nh sự, hàng loạt các
thông tư, quy định, quyết định của các ngành chức
năng về thực hiện luật môi trường đă được ban hành.
Một số tiêu chuẩn môi trường chủ yếu được soạn thảo
và thông qua. Nhiều khía cạnh bảo vệ môi trường được
đề cập trong các văn bản khác như Luật Khoáng sản,
Luật Dầu khí, Luật Hàng hải, Luật Lao động, Luật Đất
đai, Luật Phát triển và Bảo vệ rừng, Luật Bảo vệ sức
khoẻ của nhân dân, Pháp lệnh về đê điều, Pháp lệnh
về việc bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Pháp luật bảo vệ
các công tŕnh giao thông.
Các văn bản trên cùng với các văn bản về luật quốc
tế được nhà nước Việt Nam phê duyệt là cơ sở quan
trọng để thực hiện công tác quản lư nhà nước về bảo
vệ môi trường.
Công cụ quản lư môi trường là các biện pháp hành
động thực hiện công tác quản lư môi trường của nhà
nước, các tổ chức khoa học và sản xuất. Mỗi một công
cụ có một chức năng và phạm vi tác động nhất định,
liên kết và hỗ trợ lẫn nhau.
Công cụ quản lư môi trường có thể phân loại theo
chức năng gồm: Công cụ điều chỉnh vĩ mô, công cụ
hành động và công cụ hỗ trợ. Công cụ điều chỉnh vĩ
mô là luật pháp và chính sách. Công cụ hành động là
các công cụ có tác động trực tiếp tới hoạt động kinh
tế - xă hội, như các quy định hành chính, quy định
xử phạt v.v... và công cụ kinh tế. Công cụ hành động
là vũ khí quan trọng nhất của các tổ chức môi trường
trong công tác bảo vệ môi trường. Thuộc về loại này
có các công cụ kỹ thuật như GIS, mô h́nh hoá, đánh
giá môi trường, kiểm toán môi trường, quan trắc môi
trường. Công cụ quản lư môi trường có thể phân loại
theo bản chất thành các loại cơ bản sau:
"Kiểm
toán môi trường là công cụ quản lư bao gồm một quá
tŕnh đánh giá có tính hệ thống, định kỳ và khách
quan được văn bản hoá về việc làm thế nào để thực
hiện tổ chức môi trường, quản lư môi trường và trang
thiết bị môi trường hoạt động tốt".
Kiểm toán môi trường phải trả lời được các câu hỏi
mà các nhà quản lư công ty đưa ra:
Kiểm toán môi trường là một công cụ quản lư chỉ có
giá trị khi được h́nh thành trong một hệ thống quản
lư tổng thể. Nó không thể đứng đơn độc. Nó là một
công cụ giám sát trợ giúp việc ra quyết định và giám
sát quản lư.
Các công cụ kinh tế được sử dụng nhằm tác động tới
chi phí và lợi ích trong hoạt động của tổ chức kinh
tế để tạo ra các tác động tới hành vi ứng xử của nhà
sản xuất có lợi cho môi trường. Các công cụ kinh tế
trong quản lư môi trường gồm:
Việc sử dụng các công cụ kinh tế trên ở các nước cho
thấy một số tác động tích cực như các hành vi môi
trường được thuế điều chỉnh một cách tự giác, các
chi phí của xă hội cho công tác bảo vệ môi trường có
hiệu quả hơn, khuyến khích việc nghiên cứu triển
khai kỹ thuật công nghệ có lợi cho bảo vệ môi
trường, gia tăng nguồn thu nhập phục vụ cho công tác
bảo vệ môi trường và cho ngân sách nhà nước, duy tŕ
tốt giá trị môi trường của quốc gia.
Thuế và phí môi trường là các nguồn thu ngân sách do
các tổ chức và cá nhân sử dụng môi trường đóng góp.
Khác với thuế, phần thu về phí môi trường chỉ được
chi cho các hoạt động bảo vệ môi trường.
Dựa vào đối tượng đánh thuế và phí có thể phân ra
các loại sau:
"Phí
dịch vụ môi trường là một dạng phí phải trả khi sử
dụng một số dịch vụ môi trường. Mức phí tương ứng
với chi phí cho dịch vụ môi trường đó. Bên cạnh đó,
phí dịch vụ môi trường c̣n có mục địch hạn chế việc
sử dụng quá mức các dịch vụ môi trường".
Có
hai dạng dịch vụ môi trường chính và theo đó 2 dạng
phí dịch vụ môi trường là dịch vụ cung cấp nước
sạch, xử lư nước thải và dịch vụ thu gom chất thải
rắn. Đối với một số nước nông nghiệp, dịch vụ cung
cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn cũng
là một vấn đề cần quan tâm nghiên cứu để có chính
sách áp dụng phù hợp.
a.
Phí dịch vụ cung cấp nước sạch và xử lư nước thải
Vấn đề cần quan tâm là mức phí dịch vụ cung cấp nước
sạch phải được đặt ra như thế nào để sử dụng nước
một cách tiết kiệm và có hiệu quả nhất. Đối tượng
của loại h́nh dịch vụ này bao gồm các hộ gia đ́nh,
các cơ sở kinh doanh dịch vụ và một số ít các nhà
máy sản xuất công nghiệp quy mô nhỏ. Nội dung của
dịch vụ bao gồm cung cấp nước sạch, thu gom và xử lư
nước thải trước khi thải ra hệ thống thoát nước của
thành phố.
Tuỳ theo mức độ đô thị hoá khác nhau, phí dịch vụ
cung cấp nước sạch có khác nhau, nhưng thường được
quy định trên một nguyên tắc tương đối chung, đó là:
Tổng các nguồn phí thu được phải đủ chi trả cho dịch
vụ cung cấp nước và xử lư nước thải (trừ chi phí xây
dựng cơ bản). Mức phí có thể gồm hai thành phần: Mức
cơ bản cộng với một khoản dịch vụ để điều tiết chi
phí của dịch vụ.
Mức phí cơ bản là khoản chi phí cơ bản cho việc cung
cấp một đơn vị nước sạch đủ để xử lư lượng nước thải
phát sinh khi các hộ gia đ́nh sử dụng một đơn vị
nước sạch đó.
Mức phí dịch vụ có thể được hiểu là chi phí cho việc
mở rộng mạng lưới cung cấp dịch vụ và chi phí vận
hành cung cấp nước sạch và xử lư nước thải.
ë
đây, người ta căn cứ vào mức độ tiêu thụ nước sạch
để có thể xây dựng các trạm cố định hoặc chuyển tiếp
xử lư nước thải để chi phí xử lư nước thải là thấp
nhất, tránh tác động tiêu cực đến giá dịch vụ cung
cấp nước sạch và xử lư nước thải.
b.
Phí dịch vụ thu gom chất thải rắn và rác thải
Chất thải rắn ở đây được hiểu là rác thải sinh hoạt,
rác thải dịch vụ thương mại, kể cả chất thải đô thị
độc hại. Dịch vụ liên quan đến chất thải rắn sẽ có
tác dụng tích cực không chỉ riêng cho môi trường mà
cho cả phat triển kinh tế. Chính v́ thế việc xác
định giá dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lư chất
thải rắn phải được nghiên cứu, xem xét kỹ trên cơ sở
vừa đảm bảo bù đắp được chi phí thu gom, vận chuyển
xử lư vừa gián tiếp khuyến khích các hộ gia đ́nh
giảm thiểu rác thải.
Việc xác định mức phí của dịch vụ môi trường có thể
thuận lợi khi cân nhắc, phân tích các chi phí cần
thiết và dựa trên trọng lượng hoặc thể tích của rác
thải.
Nếu tiếp cận theo khối lượng rác thải th́ các hộ gia
đ́nh phải có thùng đựng rác riêng đặt ở một vị trí
cố định và việc trả phí phải hoàn toàn tự nguyện
trên cơ sở khối lượng rác thải sản sinh ra hàng ngày
hoặc hàng tuần.
C̣n một cách tiếp cận khác là theo số lượng người
trong một gia đ́nh, căn cứ vào số người, ví dụ 3
người một suất phí dịch vụ môi trường v.v... để xác
định mức phí dịch vụ môi trường phải nộp. Theo cách
này có thể không được công bằng nhưng thuận lợi hơn,
tuy nhiên không khuyến khích được các hộ gia đ́nh
giảm thiểu rác thải.