"Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố
vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao
quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản
xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên
nhiên." (Theo Điều 1, Luật Bảo vệ Môi trường của
Việt Nam).
Môi trường sống của con người theo chức năng được
chia thành các loại:
Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự
nhiên và xă hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất
của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không
khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xă
hội...
Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên
thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và
xă hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống
con người. Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà
trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường,
lớp học, sân chơi, pḥng thí nghiệm, vườn trường, tổ
chức xă hội như Đoàn, Đội với các điều lệ hay gia
đ́nh, họ tộc, làng xóm với những quy định không
thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công
nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với
luật pháp, nghị định, thông tư, quy định.
Tóm lại, môi trường là tất cả những ǵ có xung quanh
ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển.
Con người luôn cần một khoảng không gian dành cho
nhà ở, sản xuất lương thực và tái tạo môi trường.
Con người có thể gia tăng không gian sống cần thiết
cho ḿnh bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng
sử dụng của các loại không gian khác như khai hoang,
phá rừng, cải tạo các vùng đất và nước mới. Việc
khai thác quá mức không gian và các dạng tài nguyên
thiên nhiên có thể làm cho chất lượng không gian
sống mất đi khả năng tự phục hồi.
Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi
trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường,
đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các
hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho
môi trường, khai thác, sử dụng hợp lư và tiết kiệm
tài nguyên thiên nhiên.
Nhà nước bảo vệ lợi ích quốc gia về tài nguyên và
môi trường, thống nhất quản lư bảo vệ môi trường
trong cả nước, có chính sách đầu tư, bảo vệ môi
trường, có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc giáo
dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ, phổ
biến kiến thức khoa học và pháp luật về bảo vệ môi
trường. Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam ghi rơ
trong Điều 6: "Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của
toàn dân. Tổ chức, cá nhân phải có trách
nhiệm bảo vệ môi trường, thi hành pháp luật về bảo
vệ môi trường, có quyền và có trách nhiệm phát hiện,
tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi
trường".
"Khoa
học môi trường là ngành khoa học nghiên cứu mối quan
hệ và tương tác qua lại giữa con người và môi trường
xung quanh nhằm mục đích bảo vệ môi trường sống của
con người trên trái đất".
Môi trường là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành
khoa học như sinh học, địa học, hoá học, v.v... Tuy
nhiên, các ngành khoa học đó chỉ quan tâm đến một
phần hoặc một thành phần của môi trường theo nghĩa
hẹp mà không có một ngành khoa học nào đang có hiện
nay đủ điều kiện nghiên cứu và giải quyết mọi nhiệm
vụ của công tác bảo vệ môi trường là quản lư và bảo
vệ chất lượng các thành phần môi trường sống của con
người và sinh vật trên trái đất.
Như vậy, có thể xem khoa học môi trường là một ngành
khoa học độc lập, được xây dựng trên cơ sở tích hợp
các kiến thức của các ngành khoa học đă có cho một
đối tượng chung là môi trường sống bao quanh con
người với phương pháp và nội dung nghiên cứu cụ thể.
Phát triển kinh tế xă hội là quá tŕnh nâng cao điều
kiện sống về vật chất và tinh thần của con người qua
việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ
xă hội, nâng cao chất lượng văn hoá. Phát triển là
xu thế chung của từng cá nhân và cả loài người trong
quá tŕnh sống. Giữa môi trường và sự phát triển có
mối quan hệ hết sức chặt chẽ: môi trường là địa bàn
và đối tượng của sự phát triển, c̣n phát triển là
nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường.
Trong hệ thống kinh tế xă hội, hàng hoá được di
chuyển từ sản xuất, lưu thông, phân phối và tiêu
dùng cùng với ḍng luân chuyển của nguyên liệu, năng
lượng, sản phẩm, phế thải. Các thành phần đó luôn ở
trạng thái tương tác với các thành phần tự nhiên và
xă hội của hệ thống môi trường đang tồn tại trong
địa bàn đó. Khu vực giao nhau giữa hai hệ thống trên
là môi trường nhân tạo.
Tác động của hoạt động phát triển đến môi trường thể
hiện ở khía cạnh có lợi là cải tạo môi trường tự
nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho sự cải tạo
đó, nhưng có thể gây ra ô nhiễm môi trường tự nhiên
hoặc nhân tạo. Mặt khác, môi trường tự nhiên đồng
thời cũng tác động đến sự phát triển kinh tế xă hội
thông qua việc làm suy thoái nguồn tài nguyên đang
là đối tượng của hoạt động phát triển hoặc gây ra
thảm hoạ, thiên tai đối với các hoạt động kinh tế xă
hội trong khu vực.
Ở các quốc gia có tŕnh độ phát triển kinh tế khác
nhau có các xu hướng gây ô nhiễm môi trường khác
nhau. Ví dụ:
Môi trường là nơi con người khai thác nguồn vật liệu
và năng lượng cần thiết cho hoạt động sản xuất và
cuộc sống như đất, nước, không khí, khoáng sản và
các dạng năng lượng như gỗ, củi, nắng, gió,... Các
sản phẩm công, nông, lâm, ngư nghiệp và văn hoá, du
lịch của con người đều bắt nguồn từ các dạng vật
chất tồn tại trên trái đất và không gian bao quanh
trái đất.
Các nguồn năng lượng, vật liệu, thông tin sau mỗi
lần sử dụng được tuần hoàn quay trở lại dạng ban đầu
được gọi là tài nguyên tái tạo. Ví dụ như nước ngọt,
đất, sinh vật, v.v... là loại tài nguyên mà sau một
chu tŕnh sử dụng sẽ trở lại dạng ban đầu.
Trái lại, các nguồn năng lượng, vật liệu, thông tin
bị mất mát, biến đổi hoặc suy thoái không trở lại
dạng ban đầu th́ được gọi là tài nguyên không tái
tạo. Ví dụ như tài nguyên khoáng sản, gien di
truyền. Tài nguyên khoáng sản sau khi khai thác từ
mỏ, sẽ được chế biến thành các vật liệu của con
người, do đó sẽ cạn kiệt theo thời gian. Tài nguyên
gen di truyền của các loài sinh vật quư hiếm, có thể
mất đi cùng với sự khai thác quá mức và các thay đổi
về môi trường sống.
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, con người
ngày càng tăng cường khai thác các dạng tài nguyên
mới và gia tăng số lượng khai thác, tạo ra các dạng
sản phẩm mới có tác động mạnh mẽ tới chất lượng môi
trường sống.
Khủng hoảng môi trường là ǵ ?
Hiện nay, thế giới đang đứng trước 5 cuộc khủng
hoảng lớn là: dân số, lương thực, năng lượng, tài
nguyên và sinh thái. Năm cuộc khủng hoảng này đều
liên quan chặt chẽ với môi trường và làm cho chất
lượng cuộc sống của con người có nguy cơ suy giảm.
Nguyên nhân gây nên các cuộc khủng hoảng là do sự
bùng nổ dân số và các yếu tố phát sinh từ sự gia
tăng dân số. Do đó, xuất hiện một khái niệm mới là
khủng hoảng môi trường.
"Khủng
hoảng môi trường là các suy thoái về chất lượng môi
trường sống trên quy mô toàn cầu, đe doạ cuộc sống
của loài người trên trái đất".
Sau đây là những biểu hiện của khủng hoảng môi
trường:
"Công
nghệ môi trường là tổng hợp các biện pháp vật lư,
hoá học, sinh học nhằm ngăn ngừa và xử lư các chất
độc hại phát sinh từ quá tŕnh sản xuất và hoạt động
của con người. Công nghệ môi trường bao gồm các tri
thức dưới dạng nguyên lư, quy tŕnh và các thiết bị
kỹ thuật thực hiện nguyên lư và quy tŕnh đó".
Trong quá tŕnh phát triển kinh tế xă hội, con người
tác động vào tài nguyên, biến chúng thành các sản
phẩm cần thiết sử dụng trong hoạt động sống. Việc
này không tránh khỏi phải thải bỏ các chất độc hại
vào môi trường, làm cho môi trường ngày càng ô
nhiễm. Ở các các nước phát triển, vốn đầu tư cho
công nghệ xử lư chất thải chiếm từ 10 - 40% tổng vốn
đầu tư sản xuất. Việc đầu tư các công nghệ này tuy
cao nhưng vẫn nhỏ hơn kinh phí cần thiết khi cần
phục hồi môi trường đă bị ô nhiễm.
"Công
nghệ sạch là quy tŕnh công nghệ hoặc giải pháp kỹ
thuật không gây ô nhiễm môi trường, thải hoặc phát
ra ở mức thấp nhất chất gây ô nhiễm môi trường".
Có
thể áp dụng công nghệ sạch đối với các quy tŕnh sản
xuất trong bất kỳ ngành công nghiệp nào và bất kỳ
sản phẩm công nghiệp nào. Đối với các quá tŕnh sản
xuất, công nghệ sạch nhằm giảm thiểu các tác động
môi trường và an toàn của các sản phẩm trong suốt
chu tŕnh sống của sản phẩm, bảo toàn nguyên liệu,
nước, năng lượng, loại bỏ các nguyên liệu độc hại,
nguy hiểm, giảm độc tính của các khí thải, chất thải
ngay từ khâu đầu của quy tŕnh sản xuất.
"Sản
xuất sạch hơn là cải tiến liên tục quá tŕnh sản
xuất công nghiệp, sản phẩm và dịch vụ để giảm sử
dụng tài nguyên thiên nhiên, để pḥng ngừa tại nguồn
ô nhiễm không khí, nước và đất, và giảm phát sinh
chất thải tại nguồn, giảm thiểu rủi ro cho con người
và môi trường"
"Sự
cố môi trường là các tai biến hoặc rủi ro xảy ra
trong quá tŕnh hoạt động của con người hoặc biến
đổi bất thường của thiên nhiên, gây suy thoái môi
trường nghiêm trọng".
Sự
cố môi trường có thể xảy ra do:
Băo, lũ lụt,
hạn hán, nứt đất, động đất, trượt đất, sụt lở
đất, núi lửa phun, mưa axit, mưa đá, biến động
khí hậu và thiên tai khác;
Hoả hoạn,
cháy rừng, sự cố kỹ thuật gây nguy hại về môi
trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, công
tŕnh kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hoá, xă
hội, an ninh, quốc pḥng;
Sự cố trong
t́m kiếm, thăm đ̣, khai thác và vận chuyển
khoáng sản, dầu khí, sập hầm ḷ, phụt dầu, tràn
dầu, vỡ đường ống dẫn dầu, dẫn khí, đắm tàu, sự
cố tại cơ sở lọc hoá dầu và các cơ sở công
nghiệp khác;
Sự cố trong
ḷ phản ứng hạt nhân, nhà máy điện nguyên tử,
nhà máy sản xuất, tái chế nhiên liệu hạt nhân,
kho chứa chất phóng xạ.
"Ô
nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của
môi trường, vi phạm Tiêu chuẩn môi trường".
Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc
chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường
đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người,
đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất
lượng môi trường. Các tác nhân ô nhiễm bao gồm các
chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải),
rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật
lư, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ,
bức xạ.
Tuy nhiên, môi trường chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu
trong đó hàm lượng, nồng độ hoặc cường độ các tác
nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến
con người, sinh vật và vật liệu.
"Suy
thoái môi trường là sự làm thay đổi chất lượng và số
lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu
cho đời sống của con người và thiên nhiên".
Trong đó, thành phần môi trường được hiểu là các yếu
tố tạo thành môi trường: không khí, nước, đất, âm
thanh, ánh sáng, ḷng đất, núi, rừng, sông, hồ biển,
sinh vật, các hệ sinh thái, các khu dân cư, khu sản
xuất, khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên
nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và các
h́nh thái vật chất khác.
"Tiêu
chuẩn môi trường là những chuẩn mức, giới hạn cho
phép, được quy định dùng làm căn cứ để quản lư môi
trường".
V́
vậy, tiêu chuẩn môi trường có quan hệ mật thiết với
sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Hệ thống
tiêu chuẩn môi trường là một công tŕnh khoa học
liên ngành, nó phản ánh tŕnh độ khoa học, công
nghệ, tổ chức quản lư và tiềm lực kinh tế - xă hội
có tính đến dự báo phát triển. Cơ cấu của hệ thống
tiêu chuẩn môi trường bao gồm các nhóm chính sau:
Những quy
định chung.
Tiêu chuẩn
nước, bao gồm nước mặt nội địa, nước ngầm, nước
biển và ven biển, nước thải v.v...
Tiêu chuẩn
không khí, bao gồm khói bụi, khí thải (các chất
thải) v.v...
Tiêu chuẩn
liên quan đến bảo vệ đất canh tác, sử dụng phân
bón trong sản xuất nông nghiệp.
Tiêu chuẩn về
bảo vệ thực vật, sử dụng thuốc trừ sâu, diệt cỏ.
Tiêu chuẩn
liên quan đến bảo vệ các nguồn gen, động thực
vật, đa dạng sinh học.
Tiêu chuẩn
liên quan đến bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, các
di tích lịch sử, văn hoá.
Tiêu chuẩn
liên quan đến môi trường do các hoạt động khai
thác khoáng sản trong ḷng đất, ngoài biển
v.v...
Năm 1993, Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế (ISO) bắt đầu
xây dựng một bộ các tiêu chuẩn quốc tế về Quản lư
môi trường gọi là ISO 14000. Bộ tiêu chuẩn này gồm 3
nhóm chính:
"Đánh
giá tác động môi trường là quá tŕnh phân tích, đánh
giá, dự báo ảnh hưởng đến môi trường của các dự án
quy hoạch, phát triển kinh tế - xă hội, của các cơ
sở sản xuất, kinh doanh, công tŕnh kinh tế, khoa
học kỹ thuật, y tế, văn hoá, xă hội, an ninh, quốc
pḥng và các công tŕnh khác, đề xuất các giải pháp
thích hợp về bảo vệ môi trường".
Hoạt động phát triển kinh tế - xă hội ở đây có loại
mang tính kinh tế - xă hội của quốc gia, của một địa
phương lớn, hoặc một ngành kinh tế văn hóa quan
trọng (luật lệ, chính sách quốc gia, những chương
tŕnh quốc gia về phát triển kinh tế - xă hội, kế
hoạch quốc gia dài hạn), có loại mang tính kinh tế -
xă hội vi mô như đề án xây dựng công tŕnh xây dựng
cơ bản, quy hoạch phát triển, sơ đồ sử dụng một dạng
hoặc nhiều dạng tài nguyên thiên nhiên tại một địa
phương nhỏ. Tuy nhiên, một hoạt động có ư nghĩa vi
mô đối với cấp quốc gia, nhưng có thể có ư nghĩa vĩ
mô đối với xí nghiệp. Hoạt động vi mô nhưng được tổ
chức một cách phổ biến trên địa bàn rộng có khi lại
mang ư nghĩa vĩ mô.
Tác động đến môi trường có thể tốt hoặc xấu, có lợi
hoặc có hại nhưng việc đánh giá tác động môi trường
sẽ giúp những nhà ra quyết định chủ động lựa chọn
những phương án khả thi và tối ưu về kinh tế và kỹ
thuật trong bất cứ một kế hoạch phát triển kinh tế -
xă hội nào.
"Kinh
tế môi trường là công cụ kinh tế được sử dụng để
nghiên cứu môi trường và điều đó cũng có nghĩa là
trong tính toán kinh tế phải xét đến các vấn đề môi
trường".
Các vấn đề này nằm giữa kinh tế và các hệ tư nhiên
nên rất phức tạp, do đó có thể coi kinh tế môi
trường là một ngành phụ trung gian giữa các ngành
khoa học tự nhiên và khoa học xă hội. Những điểm cần
ghi nhớ khi xem xét kinh tế môi trường:
"An
ninh môi trường là trạng thái mà một hệ thống môi
trường có khả năng đảm bảo điều kiện sống an toàn
cho con người trong hệ thống đó".
Một hệ thống môi trường bị mất an ninh có thể do các
nguyên nhân tự nhiên (thiên tai) hoặc do các hoạt
động của con người (khai thác cạn kiệt tài nguyên
thiên nhiên, thải chất độc vào môi trường gây ô
nhiễm, suy thoái môi trường, suy giảm đa dạng sinh
học,...) hoặc phối hợp tác động của cả hai nguyên
nhân trên. Trạng thái an ninh của riêng phân hệ sinh
thái tự nhiên được gọi là an ninh sinh thái, do đó
an ninh sinh thái là một khía cạnh của an ninh môi
trường.
"Quan
trắc môi trường là việc theo dơi thường xuyên chất
lượng môi trường với các trọng tâm, trọng điểm hợp
lư nhằm phục vụ các hoạt động bảo vệ môi trường và
phát triển bền vững".
Trước khi thực hiện một dự án phát triển, người ta
thường phải chú ư đến sức ép môi trường. "Sức ép
môi trường là những khó khăn, trở ngại do môi trường
(tự nhiên, kinh tế, xă hội) tác động lên dự án phát
triển".
Sức ép môi trường là yếu tố nằm ngoài của dự án và
hoàn toàn không được mong đợi xảy ra khi triển khai
dự án. Có thể phân loại sức ép môi trường thành hai
loại như sau:
Sức ép môi
trường "nằm trong" khả năng khắc phục của
dự án. Ví dụ: Thiếu nước, thiếu mặt bằng xây
dựng, cơ chế hành chính của địa phương chưa phù
hợp, hạ tầng cơ sở chưa phát triển, ô nhiễm môi
trường điểm du lịch... Nếu tăng cường đầu tư và
hợp tác với địa phương sẽ giúp cho việc khắc
phục các sức ép này.
Sức ép môi
trường "nằm ngoài" khả năng khắc phục của
dự án. Ví dụ: Chế độ khí hậu thời tiết, tai biến
môi trường, điều kiện sinh thái độc hại, cơ cấu
điều hành của địa phương không hiệu quả... Với
loại sức ép này, tự thân khả năng của dự án
không thể khắc phục được, cần có một chương
tŕnh rộng lớn hơn hỗ trợ. Do đó, dự án cần phải
thích nghi, chịu đựng hoặc phải thay đổi.
Như vậy, có thể nhận thấy sự phân loại sức ép môi
trường phụ thuộc hoàn toàn vào năng lực, quy mô của
dự án. Một yếu tố môi trường có thể là sức ép môi
trường "nằm ngoài" khả năng khắc phục của dự án này
nhưng lại "nằm trong" trong khả năng khắc phục của
dự án khác có năng lực và quy mô lớn hơn. Phân loại
như vậy sẽ thuận lợi hơn trong việc đánh giá nhanh
tính khả thi của dự án và giúp cho việc t́m kiếm các
giải pháp hạn chế, khắc phục các sức ép môi trường
một cách hiệu quả nhất.
Con người sống trên Trái đất chủ yếu sử dụng không
khí, nước và thực phẩm để nuôi dưỡng cơ thể. Mỗi
người lớn một ngày hít vào 100 lít không khí và thở
ra lượng khí cacbonic cũng nhiều như vậy. Khí
cacbonic là khí thải, tụ lại nhiều một chỗ sẽ làm
vẩn đục không khí trong pḥng, gây khó chịu. Nếu
buổi tối đi ngủ đóng kín cửa pḥng, khí cacbonic sẽ
vẩn đục khắp pḥng. Bởi vậy buổi sáng ngủ dậy phải
mở cửa để không khí lưu thông, pḥng ở mới sạch.
Khi người ta ăn các thức ăc để bổ sung dinh dưỡng,
sẽ thải ra cặn bă. Chất cặn bă (phân và nước tiểu)
xuất hiện ở môi trường sinh hoạt nếu không được xử
lư tốt sẽ gây ô nhiễm môi trường, gây hại cho sức
khoẻ con người (như gây bệnh giun sán).
Trong quá tŕnh thay đổi tế bào trong cơ thể con
người thường toả ra nhiệt lượng và mùi vị. Mùi vị
của cơ thể mỗi người khác nhau, trong đó có một mùi
rất nặng kích thích hệ thần kinh khứu giác, đó là
mùi hôi nách. Đây cũng là một nguồn ô nhiễm của cơ
thể con người.
Trong sinh hoạt hàng ngày, cơ thể con người luôn
luôn toả nhiệt để điều tiết cân bằng nhiệt độ cơ
thể. Nhiệt lượng này toả ra môi trường xung quanh
nên chúng ta không thấy ảnh hưởng xấu của hiện tượng
này. Ví dụ trong một toa xe đóng kín cửa chật ních
người, nhiệt độ sẽ cao dần và những người bên trong
sẽ cảm thấy khó chịu, v́ nhiệt lượng toả ra từ cơ
thể người đă làm tăng nhiệt độ trong xe.
Cơ
thể chúng ta là một nguồn ô nhiễm. Nêu vấn đề này ra
có thể có một số người chưa nhận thức được. Nhưng
chúng ta sẽ phát hiện ra điều này khi tập trung một
số đông người trong một môi trường nhỏ hẹp. Bởi vậy,
chúng ta không những cần pḥng ngừa ô nhiễm công
nghiệp mà c̣n cần pḥng ngừa cơ thể gây ô nhiễm, ảnh
hưởng trực tiếp tới sức khoẻ chúng ta.
Có
thể nói rằng mọi vấn đề về môi trường đều bắt nguồn
từ phát triển. Nhưng con người cũng như tất cả mọi
sinh vật khác không thể đ́nh chỉ tiến hoá và ngừng
sự phát triển của ḿnh. Con đường để giải quyết mâu
thuẫn giữa môi trường và phát triển là phải chấp
nhận phát triển, nhưng giữ sao cho phát triển không
tác động một cách tiêu cực tới môi trường. Do đó,
năm 1987 Uỷ ban Môi trường và Phát triển của Liên
Hợp Quốc đă đưa ra khái niệm Phát triển bền vững:
"Phát
triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả măn các
nhu cầu hiện tại của con người nhưng không tổn hại
tới sự thoả măn các nhu cầu của thế hệ tương lai".
Để
xây dựng một xă hội phát triển bền vững, Chương
tŕnh Môi trường Liên Hợp Quốc đă đề ra 9 nguyên
tắc:
Tôn trọng và
quan tâm đến cuộc sống cộng đồng.
Cải thiện
chất lượng cuộc sống của con người.
Bảo vệ sức
sống và tính đa dạng của Trái đất.
Quản lư những
nguồn tài nguyên không tái tạo được.
Tôn trọng khả
năng chịu đựng được của Trái đất.
Thay đổi tập
tục và thói quen cá nhân.
Để cho các
cộng đồng tự quản lư môi trường của ḿnh.
Tạo ra một
khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho
việc phát triển và bảo vệ.
Năm 1991, đă xuất hiện khái niệm về Du lịch sinh
thái. "Du lịch sinh thái là loại h́nh du lịch diễn
ra trong các vùng có hệ sinh thái tự nhiên c̣n bảo
tồn khá tốt nhằm mục tiêu nghiên cứu, chiêm ngưỡng,
thưởng thức phong cảnh, động thực vật cũng như các
giá trị văn hoá hiện hữu" (Boo, 1991).
Nhưng gần đây, người ta cho rằng nội dung căn bản
của Du lịch sinh thái là tập trung vào mức độ
trách nhiệm của con người đối với môi
trường. Quan điểm thụ động cho rằng Du lịch sinh
thái là du lịch hạn chế tối đa các suy thoái môi
trường do du lịch tạo ra, là sự ngăn ngừa các tác
động tiêu cực lên sinh thái, văn hoá và thẩm mỹ.
Quan điểm chủ động cho rằng Du lịch sinh thái c̣n
phải đóng góp vào quản lư bền vững môi trường lănh
thổ du lịch và phải quan tâm đến quyền lợi của nhân
dân địa phương. Do đó, người ta đă đưa ra một khái
niệm mới tương đối đầy đủ hơn:
"Du
lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm với các khu
thiên nhiên là nơi bảo tồn môi trường và cải thiện
phúc lợi cho nhân dân địa phương".
"Du
lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại
của du khách và vùng dùng du lịch mà vẫn bảo đảm
những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ tương
lai".
Du
lịch bền vững đ̣i hỏi phải quản lư tất cả các dạng
tài nguyên theo cách nào đó để chúng ta có thể đáp
ứng các nhu cầu kinh tế, xă hội và thẩm mỹ trong khi
vẫn duy tŕ được bản sắc văn hoá, các quá tŕnh sinh
thái cơ bản, đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự
sống.
Khí quyển là lớp vỏ ngoài của trái đất với ranh giới
dưới là bề mặt thuỷ quyển, thạch quyển và ranh giới
trên là khoảng không giữa các hành tinh. Khí quyển
trái đất được h́nh thành do sự thoát hơi nước, các
chất khí từ thuỷ quyển và thạch quyển.
Thời kỳ đầu, khí quyển chủ yếu gồm hơi nước,
amoniac, metan, các loại khí trơ và hydro. Dưới tác
dụng phân huỷ của tia sáng mặt trời hơi nước bị phân
huỷ thành oxy và hydro. Oxy tạo ra tác động với
amoniac và metan tạo ra khí nitơ và cácboníc. Quá
tŕnh tiếp diễn, một lượng hidro nhẹ mất vào khoảng
không vũ trụ, khí quyển c̣n lại chủ yếu là hơi nước,
nitơ, cácboníc, một ít oxy. Thực vật xuất hiện trên
trái đất cùng với quá tŕnh quang hợp đă tạo nên một
lượng lớn oxy và làm giảm đáng kể nồng độ CO2
trong khí quyển. Sự phát triển mạnh mẽ của động thực
vật trên trái đất cùng với sự gia tăng bài tiết,
phân huỷ xác chết động thực vật, phân huỷ yếm khí
của vi sinh vật đă làm cho nồng độ khí N2
trong khí quyển tăng lên nhanh chóng, để đạt tới
thành phần khí quyển hiện nay.
Cấu trúc tầng của khí quyển được h́nh thành do kết
quả của lực hấp dẫn và nguồn phát sinh khí từ bề mặt
trái đất, có tác động to lớn trong việc bảo vệ và
duy tŕ sự sống trái đất.
Thành phần khí quyển trái đất khá ổn định theo
phương nằm ngang và phân dị theo phương thẳng đứng.
Phần lớn khối lượng 5.1015 tấn của toàn
bộ khí quyển tập trung ở tầng đối lưu và b́nh lưu.
Thành phần khí quyển trái đất gồm chủ yếu là Nitơ,
Oxy, hơi nước, CO2, H2, O3,
NH4, các khí trơ.
Trong tầng đối lưu, thành phần các chất khí chủ yếu
tương đối ổn định, nhưng nồng độ CO2 và
hơi nước dao động mạnh. Lượng hơi nước thay đổi theo
thời tiết khí hậu, từ 4% thể tích vào mùa nóng ẩm
tới 0,4 % khi mùa khô lạnh. Trong không khí tầng đối
lưu thường có một lượng nhất định khí SO2
và bụi.
Trong tầng b́nh lưu luôn tồn tại một quá tŕnh h́nh
thành và phá huỷ khí ozon, dẫn tới việc xuất hiện
một lớp ozon mỏng với chiều dày trong điều kiện mật
độ không khí b́nh thường khoảng vài chục xăngtimet.
Lớp khí này có tác dụng ngăn các tia tử ngoại chiếu
xuống bề mặt trái đất. Hiện nay, do hoạt động của
con người, lớp khí ozon có xu hưởng mỏng dần, có thể
đe doạ tới sự sống của con người và sinh vật trên
trái đất.
Nhiệt độ bề mặt trái đất được tạo nên do sự cân bằng
giữa năng lượng mặt trời đến bề mặt trái đất và năng
lượng bức xạ của trái đất vào khoảng không gian giữa
các hành tinh. Năng lượng mặt trời chủ yếu là các
tia sóng ngắn dễ dàng xuyên qua cửa sổ khí quyển.
Trong khi đó, bức xạ của trái đất với nhiệt độ bề
mặt trung b́nh +16oC là sóng dài có năng
lượng thấp, dễ dàng bị khí quyển giữ lại. Các tác
nhân gây ra sự hấp thụ bức xạ sóng dài trong khí
quyển là khí CO2, bụi, hơi nước, khí
mêtan, khí CFC v.v...
"Kết
quả của sự của sự trao đổi không cân bằng về năng
lượng giữa trái đất với không gian xung quanh, dẫn
đến sự gia tăng nhiệt độ của khí quyển trái đất.
Hiện tượng này diễn ra theo cơ chế tương tự như nhà
kính trồng cây và được gọi là Hiệu ứng nhà kính".
Sự
gia tăng tiêu thụ nhiên liệu hoá thạch của loài
người đang làm cho nồng độ khí CO2 của
khí quyển tăng lên. Sự gia tăng khí CO2
và các khí nhà kính kháctrong khí quyển
trái đất làm nhiệt độ trái đất tăng lên. Theo tính
toán của các nhà khoa học, khi nồng độ CO2
trong khí quyển tăng gấp đôi, th́ nhiệt độ bề mặt
trái đất tăng lên khoảng 3oC. Các số liệu
nghiên cứu cho thấy nhiệt độ trái đất đă tăng 0,5oC
trong khoảng thời gian từ 1885 đến 1940 do thay đổi
của nồng độ CO2 trong khí quyển từ 0,027%
đến 0,035%. Dự báo, nếu không có biện pháp khắc phục
hiệu ứng nhà kính, nhiệt độ trái đất sẽ tăng lên 1,5
- 4,5oC vào năm 2050.
Vai tṛ gây nên hiệu ứng nhà kính của các chất khí
được xếp theo thứ tự sau: CO2 => CFC =>
CH4 => O3 =>NO2. Sự
gia tăng nhiệt độ trái đất do hiệu ứng nhà kính có
tác động mạnh mẽ tới nhiều mặt của môi trường trái
đất.
"Biến
đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí
hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch
quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên
nhân tự nhiên và nhân tạo".
Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu trái đất là
do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải
khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể
hấp thụ và bể chứa khí nhà kính như sinh khối, rừng,
các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác.
Các biểu hiện của sự biến đổi khí hậu trái đất gồm:
Các quốc gia trên thế giới đă họp tại New York ngày
9/5/1992 và đă thông qua Công ước Khung về Biến đổi
khí hậu của Liên Hợp Quốc. Công ước này đặt ra mục
tiêu ổn định các nồng độ khí quyển ở mức có thể ngăn
ngừa được sự can thiệp của con người đối với hệ
thống khí hậu. Mức phải đạt nằm trong một khung thời
gian đủ để các hệ sinh thái thích nghi một cách tự
nhiên với sự thay đổi khí hậu, bảo đảm việc sản xuất
lương thực không bị đe doạ và tạo khả năng cho sự
phát triển kinh tế tiến triển một cách bền vững.
"Ô
nhiễm không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự
biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm
cho không khí không sạch hoặc gây ra sự toả mùi, có
mùi khó chịu, giảm tầm nh́n xa (do bụi)".
Có
rất nhiều nguồn gây ô nhiễm không khí. Có thể chia
ra thành nguồn tự nhiên và nguồn nhân tạo.
Nguồn gây ô nhiễm nhân tạo rất đa dạng, nhưng chủ
yếu là do hoạt động công nghiệp, đốt cháy nhiên liệu
hoá thạch và hoạt động của các phương tiện giao
thông. Nguồn ô nhiễm công nghiệp do hai quá tŕnh
sản xuất gây ra:
Các ngành công nghiệp chủ yếu gây ô nhiễm không khí
bao gồm: nhiệt điện; vật liệu xây dựng; hoá chất và
phân bón; dệt và giấy; luyện kim; thực phẩm; Các xí
nghiệp cơ khí; Các nhà máy thuộc ngành công nghiệp
nhẹ; Giao thông vận tải; bên cạnh đó phải kể đến
sinh hoạt của con người.
Sáu tác nhân ô nhiễm đầu sinh ra chủ yếu do quá
tŕnh đốt cháy nhiên liệu và sản xuất công nghiệp.
Các tác nhân ô nhiễm không khí có thể phân thành hai
dạng: dạng hơi khí và dạng phần tử nhỏ. Tuy nhiên,
phần lớn các tác nhân ô nhiễm đều gây tác hại đối
với sức khỏe con người.
Tác nhân ô nhiễm được chia làm hai loại: sơ cấp và
thứ cấp. Sunfua đioxit sinh ra do đốt cháy than đó
là tác nhân ô nhiễm sơ cấp. Nó tác động trực tiếp
tới bộ phận tiếp nhận. Sau đó, khí này lại liên kết
với ôxy và nước của không khí sạch để tạo thành axit
sunfuric (H2SO4) rơi xuống đất
cùng với nước mưa, làm thay đổi pH của đất và của
thuỷ vực, tác động xấu tới nhiều thực vật, động vật
và vi sinh vật. Như vậy, mưa axit là tác nhân ô
nhiễm thứ cấp được tạo thành do sự kết hợp SO2
với nước. Cũng có những trường hợp, các tác nhân
không gây ô nhiễm, liên kết quang hoá với nhau để
tạo thành tác nhân ô nhiễm thứ cấp mới, gây tác động
xấu. Cơ thể sinh vật phản ứng đối với các tác nhân ô
nhiễm phụ thuộc vào nồng độ ô nhiễm và thời gian tác
động.
Cơ
quan Bảo vệ môi trường của Mỹ biểu thị ô nhiễm không
khí bằng chỉ số chuẩn ô nhiễm (PSI), theo ngưỡng an
toàn và nguy hiểm đối với sức khoẻ của người. PSI là
một chỉ số thu được khi tính tới nhiều chỉ số ô
nhiễm, ví dụ tổng các hạt lơ lửng, SO2,CO,
O3, NO2 được tính theo
m g/m3/giờ
hoặc trong 1 ngày.
Các khí nhân tạo nguy hiểm nhất đối với sức khoẻ con
người và khí quyển trái đất đă được biết đến gồm:
Cacbon đioxit (CO2); Dioxit Sunfua (SO2).;
Cacbon monoxit (CO); Nitơ oxit (N2O);
Clorofluorocacbon (c̣n gọi là CFC) và Mêtan (CH4).
1. Cácbon đioxit (CO2):
CO2 với hàm lượng 0,03% trong khí quyển
là nguyên liệu cho quá tŕnh quang hợp để sản xuất
năng suất sinh học sơ cấp ở cây xanh. Thông thường,
lượng CO2 sản sinh một cách tự nhiên cân
bằng với lượng CO2 được sử dụng cho quang
hợp. Hai loại hoạt động của con người là đốt nhiên
liệu hoá thạch và phá rừng đă làm cho quá tŕnh trên
mất cân bằng, có tác động xấu tới khí hậu toàn cầu.
2. Đioxit Sunfua (SO2):
Đioxit sunfua (SO2) là chất gây ô nhiễm
không khí có nồng độ thấp trong khí quyển, tập trung
chủ yếu ở tầng đối lưu. Dioxit sunfua sinh ra do núi
lửa phun, do đốt nhiên liệu than, dầu, khí đốt, sinh
khối thực vật, quặng sunfua,.v.v... SO2
rất độc hại đối với sức khoẻ của người và sinh vật,
gây ra các bệnh về phổi khí phế quản. SO2
trong không khí khi gặp oxy và nước tạo thành axit,
tập trung trong nước mưa gây ra hiện tượng mưa axit.
3. Cacbon monoxit (CO):CO được h́nh thành do việc đốt cháy không hết
nhiên liệu hoá thạch như than, dầu và một số chất
hữu cơ khác. Khí thải từ các động cơ xe máy là nguồn
gây ô nhiễm CO chủ yếu ở các thành phố. Hàng năm
trên toàn cầu sản sinh khoảng 600 triệu tấn CO. CO
không độc với thực vật v́ cây xanh có thể chuyển hoá
CO => CO2 và sử dụng nó trong quá tŕnh
quang hợp. V́ vậy, thảm thực vật được xem là tác
nhân tự nhiên có tác dụng làm giảm ô nhiễm CO. Khi
con người ở trong không khí có nồng độ CO khoảng 250
ppm sẽ bị tử vong.
4. Nitơ oxit (N2O):
N2O là loại khí gây hiệu ứng nhà kính,
được sinh ra trong quá tŕnh đốt các nhiên liệu hoá
thạch. Hàm lượng của nó đang tăng dần trên phạm vi
toàn cầu, hàng năm khoảng từ 0,2 -,3%. Một lượng nhỏ
N2O khác xâm nhập vào khí quyển do kết
quả của quá tŕnh nitrat hoá các loại phân bón hữu
cơ và vô cơ. N2O xâm nhập vào không khí
sẽ không thay đổi dạng trong thời gian dài, chỉ khi
đạt tới những tầng trên của khí quyển nó mới tác
động một cách chậm chạp với nguyên tử oxy.
5.
Clorofluorocacbon(viết tắt là CFC): CFC
là những hoá chất do con người tổng hợp để sử dụng
trong nhiều ngành công nghiệp và từ đó xâm nhập vào
khí quyển. CFC 11 hoặc CFCl3 hoặc
CFCl2 hoặc CF2Cl2
(c̣n gọi là freon 12 hoặc F12) là những chất thông
dụng của CFC. Một lượng nhỏ CFC khác là CHC1F2
(hoặc F22), CCl4 và CF4 cũng xâm
nhập vào khí quyển. Cả hai hợp chất CFC 11 và CFC 12
hoặc freon đều là những hợp chất có ư nghĩa kinh tế
cao, việc sản xuất và sử dụng chúng đă tăng lên rất
nhanh trong hai thập kỷ vừa qua. Chúng tồn tại cả ở
dạng sol khí và không sol khí. Dạng sol khí thường
làm tổn hại tầng ôzôn, do đó là sự báo động về môi
trường, những dạng không sol khí th́ vẫn tiếp tục
sản xuất và ngày càng tăng về số lượng. CFC có tính
ổn định cao và không bị phân huỷ. Khi CFC đạt tới
thượng tầng khí quyển chúng sẽ được các tia cực tím
phân huỷ. Tốc độ phân huỷ CFC sẽ rất nhanh nếu tầng
ôzôn bị tổn thương và các bức xạ cực tím tới được
những tầng khí quyển thấp hơn.
6. Mêtan (CH4):
Mêtan là một loại khí gây hiệu ứng nhà kính. Nó được
sinh ra từ các quá tŕnh sinh học, như sự men hoá
đường ruột của động vật có guốc, cừu và những động
vật khác, sự phân giải kỵ khí ở đất ngập nước, ruộng
lúa, cháy rừng và đốt nhiên liệu hoá thạch. CH4
thúc đẩy sự ôxy hoá hơi nước ở tầng b́nh lưu. Sự gia
tăng hơi nước gây hiệu ứng nhà kính mạnh hơn nhiều
so với hiệu ứng trực tiếp của CH4. Hiện
nay hàng năm khí quyển thu nhận khoảng từ 400 đến
765x1012g CH4.
Khí Ozon gồm 3 nguyên tử oxy (03). Tầng
b́nh lưu nằm trên tầng đối lưu với ranh giới trên
dao động trong khoảng độ cao 50 km. Ở độ cao khoảng
25 km trong tầng b́nh lưu tồn tại một lớp không khí
giàu khí Ozon (O3) thường được gọi là
tầng Ozon. Hàm lượng khí Ozon trong không khí rất
thấp, chiếm một phần triệu, chỉ ở độ cao 25 - 30 km,
khí Ozon mới đậm đặc hơn (chiếm tỉ lệ 1/100.000
trong khí quyển). Người ta gọi tầng khí quyển ở độ
cao này là tầng Ozon.
Nếu tầng Ozon bị thủng, một lượng lớn tia tử ngoại
sẽ chiếu thẳng xuống Trái đất. Con người sống trên
Trái đất sẽ mắc bệnh ung thư da, thực vật không chịu
nổi nhiều tia tử ngoại chiếu vào sẽ bị mất dần khả
năng miễn dịch, các sinh vật dưới biển bị tổn thương
và chết dần. Bởi vậy các nước trên thế giới đều rất
lo sợ trước hiện tượng thủng tầng Ozon.
Tháng 10 năm 1985, các nhà khoa học Anh phát hiện
thấy tầng khí ozon trên không trung Nam cực xuất
hiện một "lỗ thủng" rất lớn, bằng diện tích nước Mỹ.
Năm 1987, các nhà khoa học Đức lại phát hiện tầng
khí ozon ở vùng trời Bắc cực có hiện tượng mỏng dần,
có nghĩa là chẳng bao lâu nữa tầng ozon ở Bắc cực
cũng sẽ bị thủng. Tin này nhanh chóng được truyền
khắp thế giới và làm chấn động dư luận.
Các nhà khoa học đều cho rằng, nguyên nhân này có
liên quan tới việc sản xuất và sử dụng tủ lạnh trên
thế giới. Sở dĩ tủ lạnh có thể làm lạnh và bảo quản
thực phẩm được lâu là v́ trong hệ thống ống dẫn khép
kín phía sau tủ lạnh có chứa loại dung dịch freon
thể lỏng (thường gọi là "gas"). Nhờ có dung dịch hoá
học này tủ lạnh mới làm lạnh được. Dung dịch freon
có thể bay hơi thành thể khí. Khi chuyển sang thể
khí, freon bốc thẳng lên tầng ozon trong khí quyển
Trái đất và phá vỡ kết cầu tầng này, làm giảm nồng
độ khí ozon.
Không những tủ lạnh, máy lạnh cần dùng đến freon mà
trong dung dịch giặt tẩy, b́nh cứu hoả cũng sử dụng
freon và các chất thuộc dạng freon. Trong quá tŕnh
sản xuất và sử dụng các hoá chất đó không tránh khỏi
thất thoát một lượng lớn hoát chất dạng freon bốc
hơi bay lên phá huỷ tầng ozon. Qua đó chúng ta thấy
rằng, tầng zon bị thủng chính là do các chất khí
thuộc dạng freon gây ra, các hoá chất đó không tự có
trong thiên nhiên mà do con người tạo ra. Rơ ràng,
con người là thủ phạm làm thủng tầng ozon, đe doạ
sức khoẻ của chính ḿnh,
Sớm ngừng sản xuất và sử dụng các hoá chất dạng
freon là biện pháp hữu hiệu nhất để cứu tầng ozon.
Nhiều hội thảo quốc tế đă bàn tính các biện pháp
khắc phục nguy cơ thủng rộng tầng ozon. 112 nước
thuộc khối Cộng đồng Châu Âu (EEC) đă nhất trí đến
cuối thế kỷ này sẽ chấm dứt sản xuất và sử dụng các
hoá chất thuộc dạng freon. V́ vậy các nhà khoa học
đang nghiên cứu sản xuất loại hoá chất khác thay thế
các hoá chất ở dạng freon, đồng thời sẽ chuyển giao
công nghệ sản xuất cho các nước đang phát triển. Có
như vậy, việc ngừng sản xuất freon mới trở thành
hiện thực. Muốn đạt được yêu cầu thiết thực này,
không chỉ riêng một vài nước mà cả thế giới đều phải
cố gắng th́ mới có thể bảo vệ được tầng ozon của
Trái đất.
Mưa axit được phát hiện ra đầu tiên năm 1948 tại
Thuỵ Điển. Nguyên nhân là v́ con người đốt nhiều
than đá, dầu mỏ. Trong than đá và dầu mỏ thường chứa
một lượng lưu huỳnh, c̣n trong không khí lại rất
nhiều khí nitơ. Trong quá tŕnh đốt có thể sinh ra
các khí Sunfua đioxit (SO2), Nitơ đioxit
(NO2). Các khí này hoà tan với hơi nước
trong không khí tạo thành các hạt axit sunfuaric (H2SO4),
axit nitơric (HNO3). Khi trời mưa, các
hạt axit này tan lẫn vào nước mưa, làm độ pH của
nước mưa giảm. Nếu nước mưa có độ pH dưới 5,6 được
gọi là mưa axit. Do có độ chua khá lớn, nước mưa có
thể hoà tan được một số bụi kim loại và ôxit kim
loại có trong không khí như ôxit ch́,... làm cho
nước mưa trở nên độc hơn đối với cây cối, vật nuôi
và con người.
Mưa axit ảnh hưởng xấu tới các thuỷ vực (ao, hồ).
Các ḍng chảy do mưa axit đổ vào hồ, ao sẽ làm độ pH
của hồ, ao giảm đi nhanh chóng, các sinh vật trong
hồ, ao suy yếu hoặc chết hoàn toàn. Hồ, ao trở thành
các thuỷ vực chết.
Mưa axit ảnh hưởng xấu tới đất do nước mưa ngầm
xuống đất làm tăng độ chua của đất, hoà tan các
nguyên tố trong đất cần thiết cho cây như canxi
(Ca), Magiê (Mg),... làm suy thoái đất, cây cối kém
phát triển. Lá cây gặp mưa axit sẽ bị "cháy" lấm
chấm, mầm sẽ chết khô, làm cho khả năng quang hợp
của cây giảm, cho năng suất thấp.
Mưa axit c̣n phá huỷ các vật liệu làm bằng kim loại
như sắt, đồng, kẽm,... làm giảm tuổi thọ các công
tŕnh xây dựng.
Xưa nay chúng ta thường nghe nói "không khí buổi sớm
trong lành nhất" và mọi người dân thành phố thường
tập luyện, chạy nhảy, hoạt động thể dục thể thao vào
sáng sớm hàng ngày. Nhưng gần đây, các nhà khoa học
lại cảnh tỉnh rằng ở những thành phố có ngành công
nghiệp và giao thông vận tải phát triển, không khí
buổi sớm không những trong lành mà c̣n bị ô nhiễm
rất nặng.
V́
sao các nhà khoa học lại đưa ra kết luận trái ngược
với nhận định lâu nay của nhiều người ?
Mức độ trong lành của không khí được quyết định bởi
thành phần các chất trong không khí, nhất là những
chất độc hại đối với cơ thể con người. Ban ngày, ánh
nắng mặt trời làm nhiệt độ không khí tăng cao, khói
thải của các nhà máy, xe cộ và bụi đất cát do các
loại xe cuốn lên bay lửng lơ trong không khí. Đến
khi mặt trời lặn, nhiệt độ không khí giảm dần. Qua
một đêm, mặt đất mát dần, nhiệt lượng toả vào không
trung cách mặt đất mấy trăm mét h́nh thành tầng
không khí trên nóng dưới lạnh, giống như chiếc nồi
áp xuống mặt đất. Lúc này khói thải của các nhà máy
không thể bốc lên cao để toả vào tầng mây mà chỉ
luẩn quẩn ở gần mặt đất với nồng độ mỗi lúc một đậm
đặc. Nếu lúc này trên mặt đất lặng gió, độ ô nhiễm
không khí sẽ càng tăng.
V́
thế, các nhà khoa học khuyên dân cư các thành phố
công nghiệp nên chuyển thời gian tập thể dục và rèn
luyện cơ thể từ sáng sớm sang khoảng 10 giờ sáng và
3 giờ chiều là thích hợp nhất.
V́ sao không khí
trong nhà cũng bị ô nhiễm?
Hiện nay nhiều gia đ́nh ở nước ta vẫn dùng than làm
chất đốt. Bếp than thải ra một lượng khí cacbonic
khá lớn, nhưng dù dùng bếp ga hoặc bếp dầu trong nhà
cũng không tránh được việc thải ra khí cacbonic.
Ngoài ra, trong quá tŕnh xào nấu thức ăn sẽ bốc ra
các hạt chất dầu mỡ làm ô nhiễm không khí trong bếp.
Mặt khác, điều kiện sống hiện nay ở các thành phố
c̣n chật chội, cơ thể con người luôn toả ra khí
cacbonic và mồ hôi, chưa kể những người hút thuốc lá
thải ra một lượng lớn khói thuốc làm ô nhiễm không
khí trong nhà ở. Những nơi ồn ào hoặc giá rét, người
ta lại thường đóng kín cửa sổ (để chống ồn và chống
rét) khiến các loại khí độc hại không thoát ra ngoài
được.
Những đồ dùng mới sử dụng trong các gia đ́nh như
thảm nilon, giấy dán tường, đồ nhựa, v.v...cũng đem
theo vào pḥng ở các chất ô nhiễm như toluen,
metylbenzen, formalđehyt,... Những hoá chất này đều
rất có hại đối với sức khỏe con người.
Nếu trong nhà có nuôi chó, mèo và trồng nhiều hoa,
cây cảnh sẽ làm tăng thêm lượng khí cacbonic và mùi
hôi trong pḥng ở. Bụi và các tạp chất khí kể trên
luôn bay lơ lửng trong không khí kèm theo các loại
vi trùng, dĩ nhiên sẽ ảnh hưởng không tốt tới sức
khỏe con người.
Muốn giải quyết vấn đề ô nhiễm không khí trong nhà
ở, cần mở nhiều cửa sổ thông khí, thường xuyên quét
dọn lau chùi nhà cửa, làm vệ sinh cá nhân đều đặn và
không nên nuôi động vật trong pḥng ở.
Vào mùa hè, khi đi từ thành phố về làng quê, ta cảm
thấy không khí ở hai vùng khác nhau rất rơ rệt.
Những người thường sống ở thôn quê cũng rất tự hào
về không khí trong lành nơi ḿnh cư trú. Các nhà
khoa học đă nghiên cứu và chỉ ra những khác nhau cơ
bản trong không khí hai vùng là:
Thứ nhất:
Không khí thành phố thường có nhiều vi khuẩn, vi
trùng gây bệnh hơn ở nông thôn, bởi v́ trong thành
phố mật độ dân cao, trao đổi hàng hoá nhiều, sản
xuất và xây dựng phát triển, tạo ra lượng rác lớn,
phân tán, khó thu gom kịp thời, gây ô nhiễm môi
trường. Người từ các vùng khác nhau qua lại nhiều,
mang mầm bệnh từ nhiều nơi đến. Không khí lưu thông
kém v́ vướng nhà cao tầng, cũng tạo cơ hội cho vi
trùng gây bệnh tập trung và tồn tại lâu hơn.
Ở nông thôn, mật độ dân, lưu lượng người và hàng hoá
qua lại đều thấp, nên chất thải ít, chủ yếu là chất
hữu cơ, một loại rác thải có thể dùng làm phân bón
ruộng. Nông thôn người thưa, nhiều cây xanh tạo cảm
giác tươi mát, dễ chịu, lại có khả năng tiết ra được
những chất kháng khuẩn thực vật, nên lượng vi trùng
gây bệnh trong không khí cũng ít hơn.
Thứ hai:
Nhiệt độ không khí thành phố cao hơn ở nông thôn,
c̣n độ ẩm lại thấp hơn. Vào mùa hè, nhiệt độ không
khí thành phố có thể cao hơn các vùng nông thôn từ 2
đến 60C, nhiệt độ tại những bề mặt phủ
gạch, bê tông cao hơn nhiệt độ không khí từ 5 đến 80C.
Đó là do ở thành phố không khí lưu thông kém, làm
giảm sự phân tán nhiệt. Nhiều xe máy, ô tô đi lại,
nhiều nhà máy, xí nghiệp sản xuất dùng ḷ đốt, thải
nhiều nhiệt vào không khí. Gạch, bê tông, đường nhựa
hấp thụ bức xạ mặt trời rất tốt, nóng lên và toả
nhiệt vào không khí. Mặt nước ao hồ lại ít, đất bị
phủ gạch, nhựa, bê tông không cho nước trong đất bốc
hơi, vừa không tiêu hao được nhiệt, vừa làm không
khí khô hơn.
Ở nông thôn, ngược lại, không khí không bị che chắn
nên lưu thông tốt hơn. Các nguồn thải nhiệt nhân tạo
như ở thành phố ít hơn nhiều. Cây cối lại nhiều, tạo
một lớp phủ tốt chắn không cho ánh sáng mặt trời
trực tiếp đốt nóng đất và c̣n tiêu thụ một phần năng
lượng mặt trời cho quang hợp. Mặt đất và mặt nước
đều bốc hơi tốt, tiêu thụ bớt năng lượng từ ánh nắng
mặt trời.
Thứ ba:
Không khí thành phố nhiều bụi bẩn hơn không khí nông
thôn do trong thành phố tập trung nhiều nhà máy xí
nghiệp, thải nhiều khói, bụi, khí độc. Việc xây
dựng, đào đất, chuyên chở vật liệu diễn ra thường
xuyên, rác thải không dọn kịp, là nguồn tạo ra bụi
bẩn đáng kể. Trên đường phố xe máy, ô tô thường
xuyên đi lại, nghiền vụn đất cát và cuốn bụi bay
lên. Không khí khô nóng, làm cho bụi lơ lửng nhiều
và lâu hơn. Bề mặt thành phố không bằng phẳng, nhiều
nhà cao thấp khác nhau, cũng dễ tạo các vùng gió
xoáy, cuốn bụi bay lên.
Thứ tư:
Trong thành phố, động cơ ô tô, xe máy, các hoạt động
sản xuất, buôn bán, giải trí tạo ra nhiều tiếng ồn.
Thành phố lại không có nhiều các dải cây xanh cản
tiếng ồn, mà chỉ có nhiều nhà xây, bê tông, làm cho
sóng âm dội đi, dội lại, hỗn độn và khó chịu hơn.
Thứ năm:
Không khí thành phố, nhất là những vùng công nghiệp
và giao thông phát triển, thường có chứa rất nhiều
khí độc hại như ôxit của lưu huỳnh, nitơ, cacbon,
ch́... Các chất này có tác động xấu tới sức khoẻ con
người và môi trường gây nên các bệnh phát sinh từ ô
nhiễm không khí.
Tóm lại, không khí thành phố thường bị ô nhiễm nặng
nề hơn nhiều so với không khí nông thôn, do đó không
có lợi cho tâm lư và sức khoẻ con người. Nhiều quốc
gia trên thế giới đă và đang đầu tư nhiều công sức
và tiền của cho việc nghiên cứu t́m ra những giải
pháp khắc phục hiện trạng ô nhiễm môi trường nặng nề
tại các thành phố lớn. Tuy nhiên vấn đề vẫn chưa thể
giải quyết ngay được. Những người đang sống trong
các thành phố, đô thị đông dân cần hiểu rơ những
nhược điểm của môi trường nơi đây, để tự có biện
pháp bảo vệ và tham gia vào sự nghiệp bảo vệ môi
trường chung của cả cộng đồng.
Đất là ǵ? Đất h́nh thành như thế nào?
"Đất
hay thổ nhưỡng là lớp ngoài cùng của thạch quyển bị
biến đổi tự nhiên dưới tác động tổng hợp của nước,
không khí, sinh vật".
Các thành phần chính của đất là chất khoáng, nước,
không khí, mùn và các loại sinh vật từ vi sinh vật
cho đến côn trùng, chân đốt v.v... Thành phần chính
của đất được tŕnh bày trong h́nh sau:
Đất có cấu trúc h́nh thái rất đặc trưng, xem xét một
phẫu diện đất có thể thấy sự phân tầng cấu trúc từ
trên xuống dưới như sau:
Mỗi một loại đất phát sinh trên mỗi loại đá, trong
điều kiện thời tiết và khí hậu tương tự nhau đều có
cùng một kiểu cấu trúc phẫu diện và độ dày.
Thành phần khoáng của đất bao gồm ba loại chính là
khoáng vô cơ, khoáng hữu cơ và chất hữu cơ. Khoáng
vô cơ là các mảnh khoáng vật hoặc đá vỡ vụn đă và
đang bị phân huỷ thành các khoáng vật thứ sinh. Chất
hữu cơ là xác chết của động thực vật đă và đang bị
phân huỷ bởi quần thể vi sinh vật trong đất. Khoáng
hữu cơ chủ yếu là muối humat do chất hữu cơ sau khi
phân huỷ tạo thành. Ngoài các loại trên, nước, không
khí, các sinh vật và keo sét tác động tương hỗ với
nhau tạo thành một hệ thống tương tác các ṿng tuần
hoàn của các nguyên tố dinh dưỡng nitơ, phôtpho,
v.v...
Các nguyên tố hoá học trong đất tồn tại dưới dạng
hợp chất vô cơ, hữu cơ có hàm lượng biến động và phụ
thuộc vào quá tŕnh h́nh thành đất. Thành phần hoá
học của đất và đá mẹ ở giai đoạn đầu của quá tŕnh
h́nh thành đất có quan hệ chặt chẽ với nhau. Về sau,
thành phần hoá học của đất phụ thuộc nhiều vào sự
phát triển của đất, các quá tŕnh hoá, lư, sinh học
trong đất và tác động của con người.
Sự
h́nh thành đất là một quá tŕnh lâu dài và phức tạp,
có thể chia các quá tŕnh h́nh thành đất thành ba
nhóm: Quá tŕnh phong hoá, quá tŕnh tích luỹ và
biến đổi chất hữu cơ trong đất, quá tŕnh di chuyển
khoáng chất và vật liệu hữu cơ trong đất. Tham gia
vào sự h́nh thành đất có các yếu tố: Đá gốc, sinh
vật, chế độ khí hậu, địa h́nh, thời gian. Các yếu tố
trên tương tác phức tạp với nhau tạo nên sự đa dạng
của các loại đất trên bề mặt thạch quyển. Bên cạnh
quá tŕnh h́nh thành đất, địa h́nh bề mặt trái đất
c̣n chịu sự tác động phức tạp của nhiều hiện tượng
tự nhiên khác như động đất, núi lửa, nâng cao và sụt
lún bề mặt, tác động của nước mưa, ḍng chảy, sóng
biển, gió, băng hà và hoạt động của con người.
Vi
sinh vật đất có nhiệm vụ phân giải xác động, thực
vật, tích luỹ chất dinh dưỡng từ môi trường xung
quanh. Động vật đất gồm giun đất, tiểu túc, nhuyễn
thể và động vật có xương tham gia tích cực vào quá
tŕnh phân huỷ xác động thực vật, đào xới đất, tạo
điều kiện cho không khí, nước và vi sinh vật thực
hiện quá tŕnh phân huỷ chất hữu cơ, giúp cho thực
vật bậc cao dễ dàng lấy được chất dinh dưỡng từ đất.
Đất là một dạng tài nguyên vật liệu của con người.
Đất có hai nghĩa: đất đai là nơi ở, xây dựng cơ sở
hạ tầng của con người và thổ nhưỡng là mặt bằng để
sản xuất nông lâm nghiệp.
Tài nguyên đất của thế giới theo thống kê như sau:
Tổng diện tích 14.777 triệu ha, với 1.527 triệu ha
đất đóng băng và 13.251 triệu ha đất không phủ băng.
Trong đó, 12% tổng diện tích là đất canh tác, 24% là
đồng cỏ, 32% là đất rừng và 32% là đất cư trú, đầm
lầy. Diện tích đất có khả năng canh tác là 3.200
triệu ha, hiện mới khai thác hơn 1.500 triệu ha. Tỷ
trọng đất đang canh tác trên đất có khả năng canh
tác ở các nước phát triển là 70%; ở các nước đang
phát triển là 36%.
Tài nguyên đất của thế giới hiện đang bị suy thoái
nghiêm trọng do xói ṃn, rửa trôi, bạc mầu, nhiễm
mặn, nhiễm phèn và ô nhiễm đất, biến đổi khí hậu.
Hiện nay 10% đất có tiềm năng nông nghiệp bị sa mạc
hoá.
Đất là một hệ sinh thái hoàn chỉnh nên thường bị ô
nhiễm bởi các hoạt động cuả con người. Ô nhiễm đất
có thể phân loại theo nguồn gốc phát sinh thành ô
nhiễm do chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt,
chất thải của các hoạt động nông nghiệp, ô nhiễm
nước và không khí từ các khu dân cư tập trung. Các
tác nhân gây ô nhiễm có thể phân loại thành tác nhân
hoá học, sinh học và vật lư.
"Độ
ph́ nhiêu của đất hay c̣n gọi là khả năng sản xuất
của đất là tổng hợp các điều kiện, các yếu tố để đảm
bảo cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt".
Do
đó, muốn tăng độ ph́ nhiêu của đất và thu được năng
suất cao, ổn định, cần phải tác động đồng thời các
yếu tố đối với đời sống cây trồng. Có thể dùng các
biện pháp như thuỷ lợi, kỹ thuật làm đất, phân bón,
chế độ canh tác,... để cải tạo đất.
Tuy nhiên, môi trường đất có những đặc thù và một số
tác nhân gây ô nhiễm có thể cùng một nguồn gốc nhưng
lại gây tác động bất lợi rất khác biệt. Do đó, người
ta c̣n phân loại ô nhiễm đất theo các tác nhân gây ô
nhiễm:
Chất ô nhiễm đến với đất qua nhiều đầu vào, nhưng
đầu ra th́ rất ít. Đầu vào có nhiều v́ chất ô nhiễm
có thể từ trên trời rơi xuống, từ nước chảy vào, do
con người trực tiếp "tặng" cho đất, mà cũng có thể
không mời mà đến.
Đầu ra rất ít v́ nhiều chất ô nhiễm sau khi thấm vào
đất sẽ lưu lại trong đó. Hiện tượng này khác xa với
hiện tượng ô nhiễm nước sông, ở đây chỉ cần chất ô
nhiễm ngừng xâm nhập th́ khả năng tự vận động của
không khí và nước sẽ nhanh chóng tống khứ chất ô
nhiễm ra khỏi chúng. Đất không có khả năng này, nếu
thành phần chất ô nhiễm quá nhiều, con người muốn
khử ô nhiễm cho đất sẽ gặp rất nhiều khó khăn và tốn
nhiều công sức.
Dân số trên trái đất tăng lên, đ̣i hỏi lượng lương
thực, thực phẩm ngày càng nhiều và con người phải áp
dụng những phương pháp để tăng mức sản xuất và cường
độ khai thác độ ph́ của đất. Những biện pháp phổ
biến nhất là:
Quá tŕnh phát triển công nghiệp và đô thị cũng ảnh
hưởng đến các tính chất vật lư và hoá học của đất.
Những tác động về vật lư như xói ṃn, nén chặt đất
và phá huỷ cấu trúc đất do các hoạt động xây dựng,
sản xuất và khai thác mỏ. Các chất thải rắn, lỏng và
khí đều có tác động đến đất. Các chất thải có thể
được tích luỹ trong đất trong thời gian dài gây ra
nguy cơ tiềm tàng đối với môi trường.
Người ta phân chia các chất thải gây ô nhiễm đất làm
4 nhóm: Chất thải xây dựng, chất thải kim loại, chất
thải khí, chất thải hoá học và hữu cơ.
"Hoang
mạc hoá là quá tŕnh suy thoái đất do những thay đổi
về khí hậu và do tác động của con người".
Hoang mạc hoá đặc biệt tác động mạnh đối với các
vùng đất khô hạn mà về mặt sinh thái đă bị suy yếu.
Hoang mạc hoá gây ra sự suy giảm về sản xuất lương
thực, sự nghèo đói. Hiện nay có tới 70% tổng số các
vùng đất khô hạn của thế giới (3,6 tỷ hecta) bị ảnh
hưởng do suy thoái.
Để
ngăn chặn nạn hoang mạc hoá, việc sử dụng đất, bao
gồm cả vấn đề trồng trọt và chăn thả, phải được tiến
hành một cách đúng đắn về mặt môi trường, có thể
chấp nhận được về mặt xă hội và có tính khả thi. Một
trong những công cụ chống hoang mạc hoá là việc
trồng cây cối và các loài thực vật khác để có thể
giữ nước và duy tŕ được chất lượng đất. Đấu tranh
với hoang mạc hoá, các Chính phủ phải:
Theo Công ước RAMSAR th́ "Đất ngập nước bao gồm:
những vùng đầm lầy, đầm lầy than bùn, những vực nước
bất kể là tự nhiên hay nhân tạo, những vùng ngập
nước tạm thời hay thường xuyên, những vực nước đứng
hay chảy, là nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, kể cả
những vực nước biển có độ sâu không quá 6m khi triều
thấp".
Dù
rộng hay hẹp, vai tṛ của các vùng đất ngập nước hầu
như đều giống nhau, đó là cung cấp cho con người
nhiên liệu, thức ăn, là nơi giải trí, là nơi lưu trữ
các nguồn gen quư hiếm. Đất ngập nước là những hệ
sinh thái có năng suất cao, cung cấp cho con người
gần 2/3 sản lượng đánh bắt cá, là nơi cung cấp lúa
gạo nuôi sống gần 3 tỷ người. Đất ngập nước cũng
đóng một vai tṛ quan trọng trong sự sống c̣n của
các loài chim.
Để
bảo tồn các vùng đất ngập nước, năm 1971, Công ước
RAMSAR đă ra đời (Iran). Đây là công ước quốc tế về
bảo tồn sớm nhất thế giới, nhiều thành quả quan
trọng về việc bảo tồn các vùng đất ngập nước đă được
ghi nhận. RAMSAR bắt buộc 92 nước thành viên của
ḿnh phân khu và bảo vệ các vùng đất ngập nước có
tầm quan trọng quốc tế và thúc đẩy việc "sử dụng hợp
lư" các vùng này. Mới đây, gần 800 khu đă được đưa
vào danh sách bảo tồn.
Vùng đất ngập nước lớn nhất của Việt Nam là châu thổ
sông Cửu Long bao gồm hệ thống sông, ng̣i, kênh,
rạch chằng chịt, những cánh đồng lúa bát ngát, rừng
ngập mặn, rừng tràm, các băi triều, ao nuôi tôm, cá.
Ở miền Trung, các vùng đất ngập nước là các đầm phá
ven biển, các hồ chứa nước nhân tạo. Ở miền Bắc, đất
ngập nước là các hồ trong hệ thống lưu vực sông
Hồng, những băi triều rộng lớn, những cánh rừng ngập
mặn của châu thổ. Tổng diện tích đất ngập nước của
Việt Nam ước tính khoảng 7 triệu đến 10 triệu hécta.
Phần lớn thóc, gạo, cá, tôm và các loại lương thực,
thực phẩm khác đều được sản xuất từ những vùng đất
ngập nước, đặc biệt và từ châu thổ sông Hồng ở phía
Bắc và châu thổ sông Cửu Long ở phía Nam. Ngoài vai
tṛ sản xuất nông nghiệp và thuỷ sản, đất ngập nước
c̣n đóng vai tṛ quan trọng trong thiên nhiên và môi
trường như lọc nước thải, điều hoà ḍng chảy (giảm
lũ lụt và hạn hán), điều hoà khí hậu địa phương,
chống xói lở bờ biển, ổn định mức nước ngầm cho
những vùng sản xuất nông nghiệp, tích luỹ nước ngầm,
là nơi trú chân của nhiều loài chim di cư quư hiếm,
là nơi giải trí, du lịch rất giá trị cho người dân
Việt Nam cũng như khách nước ngoài. Về lâu dài, các
vùng đất ngập nước của Việt Nam đă và đang đóng vai
tṛ quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế và
xă hội.
"Tai
biến địa chất là các hiện tượng tự nhiên tham gia
tích cực vào quá tŕnh biến đổi địa h́nh bề mặt
thạch quyển".
Tai biến địa chất là một dạng tai biến môi trường
phát sinh trong thạch quyển. Các dạng tai biến địa
chất chủ yếu gồm núi lửa phun, động đất, nứt đất,
lún đất, trượt lở đất. Chúng liên quan tới các quá
tŕnh địa chất xảy ra bên trong ḷng trái đất.
Nguyên nhân chính là do lớp vỏ trái đất hoàn toàn
không đồng nhất về thành phần và chiều dày, có những
khu vực vỏ trái đất mỏng manh hoặc các hệ thống đứt
găy chia cắt vỏ trái đất thành những khối, mảng nhỏ.
Do vậy, lớp vỏ trái đất trong thực tế luôn chuyển
động theo chiều đứng cũng như chiều ngang.
Tại các khu vực vỏ trái đất có kết cấu yếu, ḍng
nhiệt xuất phát từ mantia dưới dạng đất đá nóng chảy
(dung nham) hoặc khói, hơi nước: chảy theo độ dốc
địa h́nh kéo theo các tác động huỷ diệt đối với con
người và môi trường sống. Những điểm xuất hiện sự
phun trào đất đá nóng chảy hoặc bụi, hơi nước được
gọi là núi lửa. Các vùng như vậy phân bố có quy luật
trên trái đất tạo thành đai núi lửa. Hai đai núi lửa
nổi tiếng được biết trên trái đất là đai núi lửa Địa
Trung Hải và đai núi lửa Thái B́nh Dương. Sự phun
trào dung nham hoặc sự dịch chuyển của các khối đất
đá trong vỏ trái đất thông thường xảy ra một cách từ
từ nhưng đôi khi cũng xảy ra một cách đột ngột, tạo
nên hiện tượng động đất có mức độ phá hoại mạnh. Các
hoạt động của con người như khai thác khoáng sản
trong ḷng đất, xây dựng các hồ chứa nước lớn đôi
khi cũng gây ra động đất kích thích và các khe nứt
nhân tạo.
Trên bề mặt trái đất, hoạt động của nước và gió gây
ra sự xói ṃn. Xói ṃn do nước mưa là dạng xói ṃn
phổ biến nhất. Ở Việt Nam, hàng năm lượng đất xói
ṃn do mưa trên một hecta đất vùng núi và trung du
có tới vài trăm tấn. Xói ṃn do gió thường gặp ở
những nơi gió có tốc độ thường xuyên lớn, trong các
vùng lớp phủ thực vật kém phát triển.
Trượt lở đất là một dạng biến đổi bề mặt trái đất
khác. Tại đây, một khối lượng đất đá khác theo các
bề mặt đặc biệt bị trọng lực kéo trượt xuống các địa
h́nh thấp. Bề mặt trượt có thể là các bề mặt khe nứt
hoặc các lớp đất đá có tính chất cơ lư yếu như đất
sét thấm nước. Hiện tượng trượt lở đất thường xuất
hiện một cách tự nhiên trong các vùng núi vào thời
kỳ mưa nhiều hàng năm. Các hoạt động như mở đường,
khai thác khoáng sản đang làm xuất hiện tác nhân
trượt lở đất nhân tạo. Một số hiện tượng tự nhiên
khác như sóng biển, thay đổi ḍng chảy của các ḍng
sông cũng tạo nên sự trượt lở đất.
Thuỷ quyển là lớp vỏ lỏng không liên tục bao quanh
trái đất gồm nước ngọt, nước mặn ở cả ba trạng thái
cứng, lỏng và hơi. Thuỷ quyển bao gồm đại dương,
biển, ao hồ, sông ng̣i, nước ngầm và băng tuyết.
Khối lượng của thuỷ quyển khoảng 1,4.1018
tấn. Trong đó đại dương có khối lượng chiếm 97,4%
toàn bộ thuỷ quyển. Phần c̣n lại là băng trên núi
cao và hai cực trái đất chiếm 1,98%, nước ngầm chiếm
0,6%; ao, hồ, sông, suối, hơi nước chỉ chiếm 0,02%.
Ranh giới trên của thuỷ quyển là mặt nước của các
đại dương, ao, hồ. Ranh giới dưới của thuỷ quyển khá
phức tạp, từ các đáy đại dương có độ sâu hàng chục
km, vài chục mét ở các thấu kính nước ngầm cho đến
vài chục cm ở các vùng đất ngập nước. Theo diện tích
che phủ, thuỷ quyển chiếm 70,8% hay 361 triệu km2
bề mặt trái đất với độ sâu trung b́nh 3.800m. Thuỷ
quyển phân bố không đều trên bề mặt trái đất, ở nam
bán cầu là 80,9%, ở bắc bán cầu là 60,7%.
Đại dương chiếm phần quan trọng của trái đất, gồm có
Thái B́nh Dương, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương và Bắc
Băng Dương. Trong các đại dương, người ta lại chia
ra các vùng biển có diện tích nhỏ hơn như biển Ban
Tích, biển Bắc, biển Đông, biển Nam Trung Hoa v.v...
Tuy nhiên, có một số biển không có liên hệ với đại
dương như biển Caxpi, biển Aran được gọi là biển hồ.
Một số phần đại dương hoặc biển ăn sâu vào đất liền
được gọi là vịnh như vịnh Thái Lan hoặc vịnh Bắc Bộ.
Nước là tài nguyên vật liệu quan trọng nhất của loài
người và sinh vật trên trái đất. Con người mỗi ngày
cần 250 lít nước cho sinh hoạt, 1.500 lít nước cho
hoạt động công nghiệp và 2.000 lít cho hoạt động
nông nghiệp. Nước chiếm 99% trọng lượng sinh vật
sống trong môi trường nước và 44% trọng lượng cơ thể
con người. Để sản xuất 1 tấn giấy cần 250 tấn nước,
1 tấn đạm cần 600 tấn nước và 1 tấn chất bột cần
1.000 tấn nước.
Ngoài chức năng tham gia vào chu tŕnh sống trên,
nước c̣n là chất mang năng lượng (hải triều, thuỷ
năng), chất mang vật liệu và tác nhân điều hoà khí
hậu, thực hiện các chu tŕnh tuần hoàn vật chất
trong tự nhiên. Có thể nói sự sống của con người và
mọi sinh vật trên trái đất phụ thuộc vào nước.
Tài nguyên nước ở trên thế giới theo tính toán hiện
nay là 1,39 tỷ km3, tập trung trong thuỷ
quyển 97,2% (1,35 tỷ km3), c̣n lại trong
khí quyển và thạch quyển. 94% lượng nước là nước
mặn, 2% là nước ngọt tập trung trong băng ở hai cực,
0,6% là nước ngầm, c̣n lại là nước sông và hồ. Lượng
nước trong khí quyển khoảng 0,001%, trong sinh quyển
0,002%, trong sông suối 0,00007% tổng lượng nước
trên trái đất. Lượng nước ngọt con người sử dụng
xuất phát từ nước mưa (lượng mưa trên trái đất
105.000km3/năm. Lượng nước con người sử
dụng trong một năm khoảng 35.000 km3,
trong đó 8% cho sinh hoạt, 23% cho công nghiệp và
63% cho hoạt động nông nghiệp).
Nước phân bố không đều trên bề mặt trái đất. Lượng
mưa ở sa mạc dưới 100mm/năm, trong khi ở nhiều vùng
nhiệt đới (Ấn Độ) có thể đạt 5000mm/năm. Do vậy, có
nơi thiếu nước, hạn hán, trong khi nhiều vùng mưa
lụt thường xuyên. Nhiều nước Trung Đông phải xây
dựng nhà máy để cất nước ngọt hoặc mua nước ngọt từ
quốc gia khác. Các biến đổi khí hậu do con người gây
ra đang làm trầm trọng thêm sự phân bố không đều tài
nguyên nước trên trái đất.
Các tác nhân gây ô nhiễm nước có thể chia ra làm
nhiều loại: Kim loại nặng (As, Pb, Cr, Sb, cd, Hg,
Mo, Al, Cu, Zn, Fe, Al, Mn...), anion (CN-,
F-, NO3, Cl-, SO4),
một số hoá chất độc (thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ,
Dioxin), các sinh vật gây bệnh (vi khuẩn, kư sinh
trùng).
Tài nguyên nước của Việt Nam nh́n chung khá phong
phú. Việt Nam là nước có lượng mưa trung b́nh vào
loại cao, khoảng 2000 mm/năm, gấp 2,6 lượng mưa
trung b́nh của vùng lục địa trên Thế giới. Tổng
lượng mưa trên toàn bộ lănh thổ là 650 km3/năm,
tạo ra ḍng chảy mặt trong vùng nội địa là 324km3/năm.
Vùng có lượng mưa cao là Bắc Quang
4.000-5.000mm/năm, tiếp đó là vùng núi cao Hoàng
Liên Sơn, Tiên Yên, Móng Cái, Hoành Sơn, Đèo Cả, Bảo
Lộc, Phú Quốc 3.000-4.000 mm/năm. Vùng mưa ít nhất
là Ninh Thuận và B́nh Thuận, vào khoảng 600-700
mm/năm.
Ngoài ḍng chảy phát sinh trong vùng nội địa, hàng
năm lănh thổ Việt Nam nhận thêm lưu lượng từ Nam
Trung Quốc và Lào, với số lượng khoảng 550 km3.
Do vậy, tài nguyên nước mặt và nước ngầm có thể khai
thác và sử dụng ở Việt Nam rất phong phú, khoảng 150
km3 nước mặt một năm và 10 triệu m3
nước ngầm một ngày. Tuy nhiên, do mật độ dân số vào
loại cao, nên b́nh quân lượng nước sinh trong lănh
thổ trên đầu người là 4200m3/người, vào
loại trung b́nh thấp trên Thế giới.
Để
giải quyết các vấn đề môi trường trên cần phải có kế
hoạch nghiên cứu tổng thể và quy hoạch sử dụng tài
nguyên nước một cách hợp lư. Trong đó, cần quan tâm
đúng mức các vấn đề xử lư nước thải, quy hoạch các
công tŕnh thuỷ điện, thuỷ nông một cách hợp lư, bảo
vệ và phát triển tài nguyên rừng.
"Ô
nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối
với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy
hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp,
nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và
các loài hoang dă".
Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, người ta
phân ra các loại ô nhiễm nước: ô nhiễm vô cơ, hữu
cơ, ô nhiễm hoá chất, ô nhiễm sinh học, ô nhiễm bởi
các tác nhân vật lư.
Nước tinh khiết ở điều kiện b́nh thường sẽ bị phân
ly theo phương tŕnh phản ứng:
H2O
ố H+ + OH-
Giá trị pH của nước được xác định bằng logarit cơ số
10 nồng độ ion H+ theo công thức:
pH
= - lg (H+)
Đối với nước cất pH = 7, khi nước chứa nhiều ion H+,
pH < 7 và ngược lại, khi nước nhiều OH-
(kiềm), pH > 7.
Như vậy, pH là độ axit hay độ chua của nước. Độ pH
có ảnh hưởng tới điều kiện sống b́nh thường của các
sinh vật nước. Cá thường không sống được trong môi
trường nước có độ pH < 4 hoặc pH > 10. Sự thay đổi
pH của nước thường liên quan tới sự có mặt của các
hoá chất axit hoặc kiềm, sự phân huỷ chất hữu cơ, sự
hoà tan của một số anion SO-24,
NO-3, v.v...
Độ
pH của nước có thể xác định bằng phương pháp điện
hoá, chuẩn độ hoặc các loại thuốc thử khác nhau.
DO
là lượng oxy hoà tan trong nước cần thiết cho sự hô
hấp của các sinh vật nước (cá, lưỡng thê, thuỷ sinh,
côn trùng v.v...) thường được tạo ra do sự hoà tan
từ khí quyển hoặc do quang hợp của tảo. Nồng độ oxy
tự do trong nước nằm trong khoảng 8 - 10 ppm, và dao
động mạnh phụ thuộc vào nhiệt độ, sự phân huỷ hoá
chất, sự quang hợp của tảo và v.v... Khi nồng độ DO
thấp, các loài sinh vật nước giảm hoạt động hoặc bị
chết. Do vậy, DO là một chỉ số quan trọng để đánh
giá sự ô nhiễm nước của các thuỷ vực.
BOD
(Biochemical
oxygen
Demand - nhu cầu oxy sinh hoá) là lượng oxy cần
thiết để vi sinh vật oxy hoá các chất hữu cơ theo
phản ứng:
Vi
khuẩn
Chất hữu cơ + O2 ố
CO2 + H2O + tế bào mới + sản
phẩm trung gian
Trong môi trường nước, khi quá tŕnh oxy hoá sinh
học xảy ra th́ các vi sinh vật sử dụng oxy hoà tan,
v́ vậy xác định tổng lượng oxy hoà tan cần thiết cho
quá tŕnh phân huỷ sinh học là phép đo quan trọng
đánh giá ảnh hưởng của một ḍng thải đối với nguồn
nước. BOD có ư nghĩa biểu thị lượng các chất thải
hữu cơ trong nước có thể bị phân huỷ bằng các vi
sinh vật.
COD
(Chemical Oxygen Demand - nhu cầu oxy hóa
học) là lượng oxy cần thiết để oxy hoá các hợp chất
hoá học trong nước bao gồm cả vô cơ và hữu cơ. Như
vậy, COD là lượng oxy cần để oxy hoá toàn bộ các
chất hoá học trong nước, trong khi đó BOD là lượng
oxy cần thiết để oxy hoá một phần các hợp chất hữu
cơ dễ phân huỷ bởi vi sinh vật.
Toàn bộ lượng oxy sử dụng cho các phản ứng trên được
lấy từ oxy hoà tan trong nước (DO). Do vậy nhu cầu
oxy hoá học và oxy sinh học cao sẽ làm giảm nồng độ
DO của nước, có hại cho sinh vật nước và hệ sinh
thái nước nói chung. Nước thải hữu cơ, nước thải
sinh hoạt và nước thải hoá chất là các tác nhân tạo
ra các giá trị BOD và COD cao của môi trường nước.
Phú dưỡng là hiện tượng thường gặp trong các hồ đô
thị, các sông và kênh dẫn nước thải. Biểu hiện phú
dưỡng của các hồ đô thị là nồng độ chất dinh dưỡng
N, P cao, tỷ lệ P/N cao do sự tích luỹ tương đối P
so với N, sự yếm khí và môi trường khử của lớp nước
đáy thuỷ vực, sự phát triển mạnh mẽ của tảo và nở
hoa tảo, sự kém đa dạng của các sinh vật nước, đặc
biệt là cá, nước có màu xanh đen hoặc đen, có mùi
khai thối do thoát khí H2S v.v...
Nguyên nhân gây phú dưỡng là sự thâm nhập một lượng
lớn N, P từ nước thải sinh hoạt của các khu dân cư,
sự đóng kín và thiếu đầu ra của môi trường hồ. Sự
phú dưỡng nước hồ đô thị và các sông kênh dẫn nước
thải gần các thành phố lớn đă trở thành hiện tượng
phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới. Hiện
tượng phú dưỡng hồ đô thị và kênh thoát nước thải
tác động tiêu cực tới hoạt động văn hoá của dân cư
đô thị, làm biến đổi hệ sinh thái nước hồ, tăng thêm
mức độ ô nhiễm không khí của đô thị.
Kim loại nặng có Hg, Cd, Pb, As, Sb, Cr, Cu, Zn, Mn,
v.v... thường không tham gia hoặc ít tham gia vào
quá tŕnh sinh hoá của các thể sinh vật và thường
tích luỹ trong cơ thể chúng. V́ vậy, chúng là các
nguyên tố độc hại với sinh vật. Hiện tượng nước bị ô
nhiễm kim loại nặng thường gặp trong các lưu vực
nước gần các khu công nghiệp, các thành phố lớn và
khu vực khai thác khoáng sản. Ô nhiễm kim loại nặng
biểu hiện ở nồng độ cao của các kim loại nặng trong
nước. Trong một số trường hợp, xuất hiện hiện tượng
chết hàng loạt cá và thuỷ sinh vật.
Nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm kim loại nặng là quá
tŕnh đổ vào môi trường nước nước thải công nghiệp
và nước thải độc hại không xử lư hoặc xử lư không
đạt yêu cầu. Ô nhiễm nước bởi kim loại nặng có tác
động tiêu cực tới môi trường sống của sinh vật và
con người. Kim loại nặng tích luỹ theo chuỗi thức ăn
thâm nhập và cơ thể người. Nước mặt bị ô nhiễm sẽ
lan truyền các chất ô nhiễm vào nước ngầm, vào đất
và các thành phần môi trường liên quan khác. Để hạn
chế ô nhiễm nước, cần phải tăng cường biện pháp xử
lư nước thải công nghiệp, quản lư tốt vật nuôi trong
môi trường có nguy cơ bị ô nhiễm như nuôi cá, trồng
rau bằng nguồn nước thải.
Sinh vật có mặt trong môi trường nước ở nhiều dạng
khác nhau. Bên cạnh các sinh vật có ích có nhiều
nhóm sinh vật gây bệnh hoặc truyền bệnh cho người và
sinh vật. Trong số này, đáng chú ư là các loại vi
khuẩn, siêu vi khuẩn và kư sinh trùng gây bệnh như
các loại kư sinh trùng bệnh tả, lỵ, thương hàn, sốt
rét, siêu vi khuẩn viêm gan B, siêu vi khuẩn viêm
năo Nhật bản, giun đỏ, trứng giun v.v...
Nguồn gây ô nhiễm sinh học cho môi trường nước chủ
yếu là phân rác, nước thải sinh hoạt, xác chết sinh
vật, nước thải các bệnh viện v.v... Để đánh giá chất
lượng nước dưới góc độ ô nhiễm tác nhân sinh học,
người ta thường dùng chỉ số coliform. Đây là chỉ số
phản ánh số lượng trong nước vi khuẩn coliform,
thường không gây bệnh cho người và sinh vật, nhưng
biểu hiện sự ô nhiễm nước bởi các tác nhân sinh học.
Để xác định chỉ số coliform người ta nuôi cấy mẫu
trong các dung dịch đặc biệt và đếm số lượng chúng
sau một thời gian nhất định. Ô nhiễm nước được xác
định theo các giá trị tiêu chuẩn môi trường.
Hiện tượng trên thường gặp ở các nước đang phát
triển và chậm phát triển trên thế giới. Theo báo cáo
của Ngân hàng thế giới năm 1992, nước bị ô nhiễm gây
ra bệnh tiêu chảy làm chết 3 triệu người và 900
triệu người mắc bệnh mỗi năm. Đă có năm số người bị
mắc bệnh trên thế giới rất lớn như bệnh giun đũa 900
triệu người, bệnh sán máng 600 triệu người. Để hạn
chế tác động tiêu cực của ô nhiễm vi sinh vật nguồn
nước mặt, cần nghiên cứu các biện pháp xử lư nước
thải, cải thiện t́nh trạng vệ sinh môi trường sống
của dân cư, tổ chức tốt hoạt động y tế và dịch vụ
cộng.
Ô nhiễm nguồn nước bởi thuốc bảo vệ thực vật và phân
bón hoá học là hiện tượng phổ biến trong các vùng
nông nghiệp thâm canh trên thế giới. Trong quá tŕnh
sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hoá học,
một lượng đáng kể thuốc và phân không được cây trồng
tiếp nhận. Chúng sẽ lan truyền và và tích lũy trong
đất, nước và các sản phẩm nông nghiệp dưới dạng dư
lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật.
Tác động tiêu cực khác của sự ô nhiễm thuốc bảo vệ
thực vật và phân bón là làm suy thoái chất lượng môi
trường khu vực canh tác nông nghiệp như phú dưỡng
đất, nước, ô nhiễm đất, nước, giảm tính đa dạng sinh
học của khu vực nông thôn, suy giảm các loài thiên
địch, tăng khả năng chống chịu của sâu bệnh đối với
thuốc bảo vệ thực vật.
"Nước
ngầm là một dạng nước dưới đất, tích trữ trong các
lớp đất đá trầm tích bở rời như cặn, sạn, cát bột
kết, trong các khe nứt, hang caxtơ dưới bề mặt trái
đất, có thể khai thác cho các hoạt động sống của con
người".
Theo độ sâu phân bố, có thể chia nước ngầm thành
nước ngầm tầng mặt và nước ngầm tầng sâu. Đặc điểm
chung của nước ngầm là khả năng di chuyển nhanh
trong các lớp đất xốp, tạo thành ḍng chảy ngầm theo
địa h́nh. Nước ngầm tầng mặt thường không có lớp
ngăn cách với địa h́nh bề mặt. Do vậy, thành phần và
mực nước biến đổi nhiều, phụ thuộc vào trạng thái
của nước mặt. Loại nước ngầm tầng mặt rất dễ bị ô
nhiễm. Nước ngầm tầng sâu thường nằm trong lớp đất
đá xốp được ngăn cách bên trên và phía dưới bởi các
lớp không thấm nước. Theo không gian phân bố, một
lớp nước ngầm tầng sâu thường có ba vùng chức năng:
Khoảng cách giữa vùng thu nhận và vùng khai thác
nước thường khá xa, từ vài chục đến vài trăm km. Các
lỗ khoan nước ở vùng khai thác thường có áp lực. Đây
là loại nước ngầm có chất lượng tốt và lưu lượng ổn
định. Trong các khu vực phát triển đá cacbonat
thường tồn tại loại nước ngầm caxtơ di chuyển theo
các khe nứt caxtơ. Trong các dải cồn cát vùng ven
biển thường có các thấu kính nước ngọt nằm trên mực
nước biển.
Nước ngầm là nguồn cung cấp nước sinh hoạt chủ yếu ở
nhiều quốc gia và vùng dân cư trên thế giới. Do vậy,
ô nhiễm nước ngầm có ảnh hưởng rất lớn đến chất
lượng môi trường sống của con người. Các tác nhân
gây ô nhiễm và suy thoái nước ngầm bao gồm:
Quan niệm về mức độ sạch của nước uống thay đổi theo
từng thời kỳ, tuỳ thuộc vào nhận thức, phong tục,
tập quán và mức độ phát triển kinh tế, khoa học kỹ
thuật của các cộng đồng.
Tuy vậy, có thể nói "Nước uống sạch là nước không
có màu, mùi vị khác thường gây khó chịu cho người
uống, không có các chất tan và không tan độc hại cho
con người, không có các vi khuẩn gây bệnh và không
gây tác động xấu cho sức khoẻ người sử dụng trước
mắt cũng như lâu dài".
Trong nước sông hồ thường có nhiều chất lơ lửng, một
số chất khoáng hoà tan và các vi sinh vật gây bệnh
cho con người. Nước lấy từ các giếng khơi và giếng
khoan thường trong và ít vi khuẩn gây bệnh hơn,
nhưng lại nhiều muối khoáng hoà tan hơn, đặc biệt là
sắt. Do vậy, trước khi sử dụng cho sinh hoạt, các
loại nước này cần được xử lư để loại bỏ chất lơ lửng
và sắt. Thông thường ở các làng quê, nước lấy từ
sông hồ về phải đánh phèn, để lắng hoặc lọc qua một
lớp sỏi, cát dày trước khi dùng. Ở các đô thị, khi
có điều kiện, người ta khử trùng để tiêu diệt vi
trùng gây bệnh trong nước và cung cấp nước đó tới
người dùng qua hệ thống ống dẫn kín. Tuỳ thuộc vào
phương pháp xử lư và khử trùng, nước có thể đạt độ
trong sạch tới mức uống được. Tuy nhiên mức độ khử
trùng càng cao th́ chi phí sản xuất càng lớn, làm
giá thành nước tăng lên. Do đó, không phải ở đâu
người ta cũng khử trùng nước máy tới mức có thể uống
ngay được.
Người ta đă chế tạo được những màng lọc đặc biệt, có
tác dụng chỉ cho nước đi qua và giữ lại toàn bộ các
vi sinh vật gây bệnh cũng như các chất tan trong
nước. Nước sau khi lọc tinh khiết, trong sạch như
nước cất. Tuy nhiên, nước này cũng như nước cất,
không hoàn toàn có lợi cho sức khoẻ con người, mặc
dù chúng không chứa các vi trùng gây bệnh, nhưng
chúng có thể không có đủ các loại muối khoáng hoà
tan cần thiết cho cơ thể con người. Ngoài ra, máy
lọc nước lại đắt tiền, rơ ràng là dùng máy lọc nước
để uống vừa tốn kém, vừa không có lợi.
Đun sôi là biện pháp tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh
đơn giản và hiệu quả nhất. Tuy nhiên, trong khi đun
cần phải để cho nước sôi một lúc, nhất là khi đun
nước trên các vùng núi cao. B́nh đựng nước đun sôi
để nguội, chai hộp nước ngọt uống dở phải được đậy
kín để tránh côn trùng,
Nước mưa, trong dân gian c̣n gọi là nước không rễ,
được nhiều người coi là nước sạch. Một số người dân
thích uống nước mưa không đun sôi v́ nhiều lẽ: nó
chứa ít các loại muối khoáng hoà tan, chứa ít sắt
làm cho nước không tanh... Người ta c̣n cho rằng
nước mưa, nước tuyết tan không có thành phần nước
nặng, nên rất có lợi cho sức khoẻ con người.
Tuy nhiên nước mưa hoàn toàn không sạch như người ta
tưởng, nhất là trong thời đại ngày nay. Bởi v́ không
khí nhiều vùng đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. mỗi hạt
mưa khi rơi từ trên cao xuống đă rửa sạch một vài
kilômet không khí. Do đó trong nước mưa cũng có thể
có rất nhiều vi trùng gây bệnh, nhiều chất hoà tan
độc hại, ví dụ như axit nitơric, axit sunfuaric...
Hơn nữa nước mưa thường được hứng từ mái nhà, là nơi
tích luỹ rất nhiều chất bẩn. V́ thế không nên uống
nước mưa chưa đun sôi.
Đông lạnh không có tác dụng sát trùng. B́nh thường
các nhà máy làm nước đá đều có biện pháp khử trùng,
tiêu diệt vi trùng gây bệnh trong nước trước khi đưa
nước vào máy làm đông lạnh. Trong khi đó, nhiều cơ
sở sản xuất nước đá tư nhân thường chỉ lấy nước máy,
nước giếng thông thường để làm đá, do đó đá của họ
chứa rất nhiều vi trùng, dễ gây các bệnh đường ruột,
không nên uống.
Các loại nước đóng chai, nước giải khát cũng không
hoàn toàn đáng tin tưởng, bởi không phải tất cả các
cơ sở sản xuất và bán các loại nước đó đều dùng nước
đun sôi, nước đă tiệt trùng, nhất là các hộ sản xuất
cá thể. Các hàng bán nước giải khát ngoài vỉa hè
thường không tuân thủ đầy đủ các quy định về vệ sinh
thực phẩm, hay dùng các loại nước đóng chai không
đảm bảo chất lượng, chỗ bán hàng nhiều khi rất bẩn,
ngay cạnh cống rănh, đống rác... hôi thối và nhiều
ruồi, muỗi, cốc chén không sạch, dễ gây bệnh đường
ruột cho người uống.
Đặc biệt nguy hiểm là các loại nước giải khát chế
biến tại chỗ, như nước mía ép, do máy móc và môi
trường sản xuất không đảm bảo vệ sinh. Một số loại
nước khoáng có đặc tính chữa bệnh và chỉ được dùng
theo chỉ định của bác sĩ.
Biển và đại dương chiếm 71% diện tích hành tinh với
độ sâu trung b́nh 3.710m và tổng khối nước 1,37 tỷ
km3.
Tài nguyên biển và đại dương rất đa dạng được chia
ra thành các loại: Nguồn lợi hoá chất và khoáng chất
chứa trong khối nước và đáy biển; nguồn lợi nhiên
liệu hoá thạch, chủ yếu là dầu và khí tự nhiên,
nguồn năng lượng "sạch" khai thác từ gió, nhiệt độ
nước biển, các ḍng hải lưu và thuỷ triều. Mặt biển
và vùng thềm lục địa là đường giao thông thuỷ, biển
là nơi chứa đựng tiềm năng cho phát triển du lịch,
tham quan, nghỉ ngơi, giải trí, nguồn lợi sinh vật
biển.
Sinh vật biển là nguồn lợi quan trọng nhất của con
người, gồm hàng loạt nhóm động vật, thực vật và vi
sinh vật. Hai nhóm đầu có tới 200.000 loài. Sản
lượng sinh học của biển và đại dương như sau: Thực
vật nổi 550 tỷ tấn, thực vật đáy 0,2 tỷ tấn, các
loài động vật tự bơi (mực, cá, thú...) 0,2 tỷ tấn.
Năng suất sơ cấp của biển khoảng 50 - 250g/m2/năm.
Sản lượng khai thác thuỷ sản từ biển và đại dương
toàn thế giới gia tăng, ví dụ năm 1960: 22 triệu
tấn; 1970: 40 triệu tấn; 1980: 65 triệu tấn; 1990:
80 triệu tấn. Theo đánh giá của FAO, lượng thuỷ sản
đánh bắt tối đa từ biển là 100 triệu tấn.
Biển và đại dương là kho chứa hoá chất vô tận. Tổng
lượng muối tan chứa trong nước biển là 48 triệu km3,
trong đó có muối ăn, iốt và 60 nguyên tố hoá học
khác. Các loại khoáng sản khai thác chủ yếu từ biển
như dầu khí, quặng Fe, Mn, quặng sa khoáng và các
loại muối. Năng lượng sạch từ biển và đại dương hiện
đang được khai thác phục vụ vận tải biển, chạy máy
phát điện và nhiều lợi ích khác của con người.
Biển Đông của Việt nam có diện tích 3.447.000 km2,
với độ sâu trung b́nh 1.140m, nơi sâu nhất 5.416m.
Vùng có độ sâu trên 2.000m chiếm 1/4 diện tích thuộc
phần phía Đông của biển. Thềm lục địa có độ sâu <
200m chiếm trên 50% diện tích. Tài nguyên của Biển
Đông rất đa dạng, gồm dầu khí, tài nguyên sinh vật
(thuỷ sản, rong biển). Riêng trữ lượng hải sản ở
phần Biển Đông thuộc Việt Nam cho phép khai thác với
mức độ trên 1 triệu tấn/năm. Sản lượng dầu khí khai
thác ở vùng biển Việt Nam đạt 10 triệu tấn hiện nay
và 20 triệu tấn vào năm 2.000.
Biển là nơi tiếp nhận phần lớn các chất thải từ lục
địa theo các ḍng chảy sông suối, các chất thải từ
các hoạt động của con người trên biển như khai thác
khoáng sản, giao thông vận tải biển. Trong nhiều
năm, biển sâu c̣n là nơi đổ các chất thải độc hại
như chất thải phóng xạ của nhiều quốc gia trên thế
giới. Các biểu hiện của sự ô nhiễm biển khá đa dạng,
có thể chia ra thành một số dạng như sau:
Công ước Luật biển năm 1982 đă chỉ ra 5 nguồn gây ô
nhiễm biển: Các hoạt động trên đất liền, thăm ḍ và
khai thác tài nguyên trên thềm lục địa và đáy đại
dương, thải các chất độc hại ra biển, vận chuyển
hàng hoá trên biển và ô nhiễm không khí.
Bên cạnh các nguồn ô nhiễm nhân tạo trên, biển có
thể bị ô nhiễm bởi các quá tŕnh tự nhiên như núi
lửa phun, tai biến băo lụt, sự cố ṛ rỉ dầu tự nhiên
v.v...
Bảo vệ môi trường biển là một trong những nội dung
quan trọng của các chương tŕnh bảo vệ môi trường
của Liên Hợp Quốc và các quốc gia trên thế giới.
Công ước Luật biển năm 1982, Công ước Marpol 73/78
chống ô nhiễm biển, Công ước quốc tế 1990 về việc
sẵn sàng đối phó và hợp tác quốc tế chống ô nhiễm
dầu đă thể hiện sự quan tâm của quốc tế đối với vấn
đề ô nhiễm biển.
Hàng năm loài người thải ra biển hơn 10 triệu tấn
dầu bẩn, trong đó có khoảng 5 triệu tấn được thải ra
qua các ḍng sông và các khu công nghiệp ven biển,
khoảng 1 triệu tấn do rửa khoang chứa của các tàu
chở dầu và dầu bẩn của các tàu thuyền khác thải ra.
Hàng ngày, con người c̣n không ngừng đổ ra biển một
khối lượng lớn các chất thải công nghiệp như kim
loại nặng, thuốc trừ sâu, nước thải công nghiệp và
sinh hoạt, chất thải thể rắn và các chất thải phóng
xạ, v.v... Biển trở thành một thùng rác khổng lồ
không đáy. Biển rộng mênh mông và sâu thẳm, có thể
làm trong sạch rất nhiều chất ô nhiễm do con người
đổ vào. Nhưng nếu con người không ngừng đổ vào biển
các loại chất thải với khối lượng rất lớn và liên
tục như vậy th́ biển dù rộng lớn đến mấy cũng không
thể chịu nổi.
Trong thập kỷ 70, ở vùng biển Đại Tây Dương và biển
Bắc đă có hàng chục vạn chim biển và vô số cá biển
chết v́ ô nhiễm dầu. Con rùa biển lớn nhất thế giới
nặng hơn 900 kg t́m thấy ở bờ biển xứ Gan bị tắc
ruột chết v́ một chiếc túi nilon khổ 15x22cm. Các
kim loại nặng đổ ra biển sẽ tích tụ trong cơ thể
sinh vật biển. Khi con người ăn những con cá có kim
loại nặng sẽ bị nhiễm độc. Chất thải phóng xạ đổ ra
biển c̣n đáng lo ngại hơn. Các chất phóng xạ này
trực tiếp tham gia vào quá tŕnh hoạt động thay đổi
sự sống của sinh vật hải dương, qua đó xâm nhập vào
cơ thể con người, làm tăng nguy cơ bị bệnh ung thư.
Tóm lại, loài người coi biển cả là thùng rác th́ rốt
cuộc những rác rưởi đó sẽ quay lại gây tai hoạ cho
con người. Chúng ta cần biết rằng, khả năng tự làm
sạch các chất ô nhiễm của biển là có hạn, bởi vậy
con người cần phải xử lư trước khi đổ ra biển các
chất nước thải, khí thải, rác rưởi... Không nên v́
tiết kiệm công của mà đổ bừa ra biển, hậu quả sẽ c̣n
lớn hơn nhiều.
Biển Việt Nam nhận các chất gây ô nhiễm từ hai nguồn
chính là lục địa và từ biển. Các chất gây ô nhiễm
chủ yếu là dầu, hoá chất bảo vệ thực vật, chất thải
sinh hoạt, chất thải công nghiệp.
Việt Nam có khoảng 13 hệ sinh thái chính ở biển và
đới bờ. Các hệ sinh thái này rất dễ bị tổn thương
bởi tác động ô nhiễm, đặc biệt là ô nhiễm dầu. Theo
thống kê của Cục Môi trường (Bộ Khoa học, Công nghệ
và Môi trường), kể từ năm 1989 đến nay có gần 20 vụ
tràn dầu lớn nhỏ được ghi nhận. Điển h́nh là:
Thiệt hại kinh tế ước tính lên đến hàng trăm tỷ
đồng. Hơn nữa, hàng năm khoảng 200 triệu tấn dầu thô
của các nước vận chuyển thông qua vùng đặc quyền
kinh tế của Việt Nam đến Nhật Bản và Hàn Quốc, đang
tạo nguy cơ không nhỏ về sự cố tràn dầu.
Năm 1971, vào một buổi sáng sớm ngư dân ở vùng biển
Kagosin (Nhật Bản) bỗng chứng kiến một hiện tượng kỳ
lạ, chỉ trong một đêm nước biển đang từ màu xanh
chuyển sang màu đỏ. Tin tức truyền đi rất nhanh, dân
chúng ở các vùng kéo nhau đến bờ biển Kagosin ngắm
cảnh đẹp hiếm có, ai cũng tấm tắc khen. Họ đâu biết
rằng, đó không phải là một cảnh đẹp mà là một tai
hoạ lớn. Chẳng bao lâu, gió từ biển khơi đưa vào mùi
tanh nồng rồi xuất hiện vô số cá chết nổi trôi dạt
vào bờ biển. Đến lúc đó ngư dân vùng biển Kagosin
mới hiểu rằng nguồn sống của họ sẽ bị cạn kiệt.
Chuyện ǵ xảy ra vậy? Đó là do nước thải sinh hoạt,
nước thải công nghiệp và phân hoá học ở đồng ruộng
đă hoà lẫn với nước mưa chảy ra biển Kagosin. Lẽ ra
nước sông, nước ruộng chảy ra biển đem theo các chất
hữu cơ và dinh dưỡng như các hợp chất của nitơ,
photpho, cacbon với tỷ lệ thích hợp sẽ có ích cho
biển. Nhưng các chất dinh dưỡng đó quá nhiều khiến
nước biển bị băo hoà, chúng tiêu hoá hết khí oxy hoà
tan trong nước biển khiến tôm cá không c̣n oxy để
thở, ngược lại các sinh vật phù du như tảo sinh sôi
rất nhanh. Màu đỏ của nước biển chính là màu của một
loại tảo. Do các loại tảo có màu khác nhau nên có
khi nước biển chuyển thành màu vàng hoặc màu xanh lá
cây.
Nước biển đỏ là kẻ thù lớn của nghề cá. Biển ở đâu
xuất hiện màu đỏ, cá ở đó sẽ bị chết v́ ngạt thở,
không những thế hiện tượng nước biển đỏ xuất hiện
không ngắn như ảo ảnh ở biển mà tồn tại khá lâu, có
nơi kéo dài tới hơn 1700 ngày như vùng biển Nhật
Bản.
Tháng 8/1978, vùng biển Bột Hải ở Trung Quốc cũng
xuất hiện hiện tượng nước biển đỏ trên một diện tích
560 km2 suốt hơn 20 ngày. Các nhà khoa
học đă kết luận đó là do nguồn nước thải ra từ thành
phố Thiên Tân và Bắc Kinh gây ra. Qua đó có thể thấy
rằng, hiện tượng nước biển đỏ không phải lây lan từ
nước khác sang mà là "sản phẩm" của chính những nước
không biết bảo vệ môi trường biển.
Muốn pḥng ngừa hiện tượng nước biển đỏ, con người
nhất thiết phải giảm bớt việc đổ các chất hữu cơ và
các chất giàu dinh dưỡng ra biển.
Năm 1969 nước Mỹ xây dựng một nhà máy điện nguyên tử
trên bờ vịnh Bistan. Trước khi xây dựng nhà máy,
thuỷ triều lên theo hướng tây nam và xuống theo
hướng đông bắc. Nhưng sau khi nhà máy điện nguyên tử
đi vào hoạt động, mỗi phút có hơn 2000m3
nước làm mát xả ra biển khiến thuỷ triều ở bờ vịnh
Bistan thay đổi theo hướng ngược lại. Không những
vậy, nước nóng do nhà máy xả ra đă làm cho khắp một
vùng biển rộng lớn 60 ha vốn có nhiệt độ mặt nước 30
- 310C tăng lên tới 33 - 350C,
trong đó có 10 - 12 ha mặt biển nhiệt độ lên tới 35
- 360C. Xung quanh ống xả nước nóng nhiệt
độ lên cao tới 400C. Nói chung có khoảng
hơn 900 ha mặt biển bị nóng lên do nước xả của nhà
máy điện nguyên tử. Trong khu vực 10 - 12 ha nóng
nhất hầu như không t́m thấy bất kỳ loại động thực
vật nào. Các loại tảo thường thấy như tảo xanh, tảo
đỏ, tảo tím đều bị tuyệt diệt, chỉ c̣n sót lại loại
tảo xanh lam. Ở các vùng nước nóng khác, các loài
động thực vật biển cũng giảm đi nhiều, nhất là vào
mùa hè người ta thường thấy xác tôm và cua nhỏ chết
nổi trên mặt nước.
V́
sao lại như vậy ?
Đó
là v́ nhiệt độ nước lên cao làm giảm lượng khí oxy
hoà tan trong nước, ảnh hưởng tới quá tŕnh thay đổi
tế bào của động thực vật. Các sinh vật quen sống ở
nước biển có nhiệt độ b́nh thường, khi nước biển
nóng lên, chúng sẽ chết hoặc chạy trốn tới vùng nước
khác mát hơn. Một số loại cá do nhiệt độ nước biển
tăng cao đă không t́m được tới nơi đẻ trứng thích
hợp hoặc bị nhầm lẫn thời gian và địa điểm nên không
thực hiện được việc đẻ trứng di truyền ṇi giống.
Nhiệt độ nước biển lên cao khiến các sinh vật thích
ấm áp sinh sôi nảy nở nhanh chóng, trong khi đó các
loại tôm, cá, trai, ṣ,... có giá trị kinh tế lại
giảm đi nhanh, dẫn đến phá vỡ môi trường sống trong
vùng biển đó. Những hiện tượng như vậy thường xảy ra
khi nhiệt độ nước biển tăng lên trên 40C
so với mức b́nh thường và người ta gọi là sự ô nhiễm
nóng. Trong thực tế có khi không cần nước nóng đến
như vậy cũng đủ gây ra hiện tượng ô nhiễm nóng.
Ô
nhiễm nóng chủ yếu là do các nguồn nước làm mát
thiết bị, máy móc xả ra, trong đó chủ yếu là của
ngành công nghiệp điện lực. Các ngành công nghiệp
khác như luyện kim, hoá chất, dầu mỏ, cơ khí... cũng
góp phần đáng kể gây ra ô nhiễm nóng, nhưng hậu quả
của ngành công nghiệp điện lực là đáng lưu ư nhất.
Hiện nay sản lượng điện của toàn thế giới mỗi năm
tăng 7,2%, khoảng 10 năm sau sẽ tăng gấp đôi.
Ô
nhiễm nóng biển đôi khi cũng mang lại lợi ích nhất
định. Ví dụ về mùa đông nhiệt độ nước biển tăng lên
giúp cho một số loài cá đỡ bị rét cóng. Nhưng xét
cho cùng th́ lợi ít hại nhiều. V́ vậy nói chung vẫn
nên t́m cách ngăn chặn hiện tượng này. Đă có những
đề xuất dùng ống dẫn dài xả nước làm nguội máy ra
vùng biển xa bờ, hoặc hút nước lạnh ở đáy biển để
làm nguội máy. Những phương án này có hiệu quả hay
không c̣n chờ thực tế trả lời.
El-Nino ban đầu là tên của ḍng hải lưu chảy theo
hướng nam ngoài khơi bờ biển Pêru và Êcuađo dẫn đến
sự nóng lên của bề mặt nước phía đông Thái B́nh
Dương xích đạo dọc ngoài khơi bờ biển Pêru và Êcuađo
vốn thường là lạnh. Hàng năm, vào mùa Giáng sinh,
ḍng hải lưu ấm chảy về phía nam dọc bờ biển Êcuađo
thay thế cho nước lạnh ở đây và ngư dân địa phương
gọi hiện tượng này là El-Nino (Chúa Hài đồng).
Ngày nay, El-Nino được dùng để chỉ hiện tượng nóng
lên khác thường của nước biển và vành đai xích đạo
rộng lớn dài gần 10.000km, từ bờ biển Nam Mỹ đến
quần đảo Macsan, Marudơ ở khu vực giữa Thái B́nh
Dương. El-Nino thường gắn với một quá tŕnh lớn của
khí quyển - đại dương là dao động Nam bán cầu và
được gọi chung là ENSO. Hiện tượng El-Nino thường
lặp lại với chu kỳ từ 8 đến 11 năm, chu kỳ ngắn hơn
là 2 đến 3 năm. Giữa các thời kỳ nóng lên bất thường
của nước biển ở khu vực trên, đôi khi c̣n xảy ra
hiện tượng ngược lại, nước biển lạnh đi - Anti-
El-Nino, hay c̣n gọi là La-Nina.
Khi xuất hiện, El-Nino gây ra những thiên tai nặng
nề như mưa lớn, băo, lũ ở vùng này, hạn hán, cháy
rừng ở vùng khác, làm thiệt hại lớn về người, thảm
hoạ về kinh tế - xă hội và đặc biệt là những thiệt
hại không thể khắc phục về môi trường.
Trong khoảng 100 năm trở lại đây, những lần El-Nino
xuất hiện gây thiệt hại lớn là các năm 1877-1878,
1888; đối El-Nino (La-Nina) 1973-1975 và đặc biệt là
"El-Nino thế kỷ 1982-1983" gây tổng thiệt hại cho
toàn thế giới là 13 tỷ đô la.
Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới, thiệt hại do
El-Nino 1997-1998 gây cho Inđônêxia, Malaysia,
Singapo và đảo Thái B́nh Dương đă lên tới 20 tỷ đô
la.
Không khí ở vùng bờ biển chứa một lượng khá lớn
anion. Các anion này được gọi là "vitamin không
khí", chúng theo đường hô hấp vào cơ thể con người,
cải thiện hoạt động của phổi, tăng thêm khả năng hấp
thụ oxy và thải khí cacbonic. Thông thường ở những
nơi công cộng trong thành phố, mỗi xăngtimet khối
không khí có từ 10-20 anion, trong pḥng ở có từ
40-50 anion/cm3, ở băi cỏ hoặc công viên
có 100-200 anion/cm3, trong khi đó ở vùng
bờ biển có tới 10.000 anion/cm3, nhiều
gấp mấy trăm lần so với trong pḥng ở.
Các anion này là các ion mang điện nên có tác dụng
hạn chế vi khuẩn sinh sôi nảy nở. Môi trường nhiều
anion sẽ làm tăng công năng thần kinh giao cảm của
con người, khiến con người cảm thấy sảng khoái vui
vẻ, tăng thêm hồng cầu trong máu.
V́
thế, không khí ở vùng bờ biển rất có lợi cho sức
khoẻ con người. Hầu như ai cũng cảm thấy không khí ở
bờ biển rất trong lành, hít thở thật sảng khoái, đặc
biệt có lợi cho những người mắc bệnh thiếu máu, sưng
phổi, cao huyết áp, suy nhược thần kinh, hen
suyễn,... Đó cũng chính là lư do v́ sao các trại
điều dưỡng ngày càng được xây dựng nhiều ở vùng bờ
biển.
Băng là một thành phần quan trọng của thuỷ quyển,
tập trung chủ yếu ở hai cực trái đất. Khối lượng
băng trên trái đất chiếm tới 75% tổng lượng nước
ngọt và gần 2% khối lượng thuỷ quyển. Băng tập trung
nhiều nhất ở châu Nam cực với chiều dày hàng km và
tuổi địa chất hàng vạn năm. Ở một số vùng núi cao và
các đảo gần hai cực, tồn tại những khối băng có quy
mô nhỏ. Khối lượng băng trên trái đất thay đổi theo
thời gian, phụ thuộc vào nhiệt độ trung b́nh của
trái đất.
Vào thời kỳ băng hà, lượng băng ở các cực tăng lên,
ngược lại với thời kỳ tan băng, khi nhiệt độ trái
đất tăng lên. Các nghiên cứu khoa học cho biết, 16 -
18 ngh́n năm trước, tồn tại một thời kỳ băng hà lớn,
mực nước biển thấp hơn hiện nay 120m. Sau thời kỳ
trên là thời kỳ ấm dần, mực nước biển tăng lên do
tan băng ở hai cực. Trong bốn ngh́n năm gần đây, tốc
độ dâng lên của nước biển là 8 cm/ 100 năm. Bề mặt
băng ở hai cực có tác động phản xạ ánh sáng mặt trời
chiếu xuống trái đất.
Trong những năm gần đây, sự gia tăng của nhiệt độ
khí quyển toàn cầu (khoảng 0,3 - 0,6 oC
trong 100 năm qua) bởi hiệu ứng nhà kính đang làm
cho tốc độ tan băng ở hai cực và mực nước biển tăng
lên. Với tốc độ tăng này, vào cuối thế kỷ 21, sự tan
băng ở vùng cực và núi cao sẽ làm cho mực nước biển
dâng cao từ 65 - 100 cm. Mực nước biển dâng cao do
tan băng có thể gây ra các hiện tượng:
Sinh quyển chính là lớp vỏ sống của
trái đất, một hệ thống động vô cùng phức tạp với số
lượng lớn các yếu tố ngẫu nhiên và nhiều quá tŕnh
mang đặc điểm xác suất. Trong thành phần của sinh
quyển có tầng đối lưu của khí quyển, toàn bộ thuỷ
quyển, một phần của thạch quyển cho tới các lớp
nhiệt độ 100oC. Như vậy, sinh quyển là
toàn bộ thế giới sinh vật cùng với các yếu tố của
môi trường bao quanh chúng trên trái đất, bao gồm cả
các hoạt động của sinh vật đă, đang và sẽ tồn tại
trên vỏ trái đất.
Trong sự h́nh thành sinh quyển, có sự tham gia tích
cực của các yếu tố bên ngoài như năng lượng mặt
trời, sự nâng lên và hạ xuống của vỏ trái đất, các
quá tŕnh tạo núi, băng hà v.v... Các cơ chế xác
định tính thống nhất và sự toàn vẹn của sinh quyển
là sự di truyền và tiến hoá của thế giới sinh vật,
ṿng tuần hoàn sinh địa hoá của các nguyên tố hoá
học, ṿng tuần hoàn nước tự nhiên. Sinh quyển tồn
tại trên trái đất trong mối cân bằng động với các hệ
tự nhiên khác.
"Sinh
khối là tổng trọng lượng của sinh vật sống trong
sinh quyển hoặc số lượng sinh vật sống trên một đơn
vị diện tích, thể tích vùng".
Khối lượng sinh khối trong sinh quyển ước tính là
n.1014 - 2.1016 tấn. Trong đó,
riêng ở các đại dương hiện có 1,1. 109
tấn sinh khối thực vật và 2,89. 1010 tấn
sinh khối động vật. Phần chủ yếu của sinh khối tập
trung trên lục địa với ưu thế nghiêng về phía sinh
khối thực vật.
Sinh khối của trái đất hiện chiếm một tỷ lệ nhỏ so
với trọng lượng của toàn bộ trái đất và rất bé so
với thạch quyển, thuỷ quyển. Tuy nhiên, trong thời
gian địa chất lâu dài, từ khi xuất hiện vào khoảng 3
tỷ năm trước đây, sinh khối trái đất đă thực hiện
một chu tŕnh biến đổi mạnh mẽ một khối lượng lớn
vật chất trên trái đất. Sinh khối có mặt trên hầu
hết các loại đất đá trầm tích, biến chất và các
khoáng sản trầm tích của trái đất dưới dạng vật chất
hữu cơ. Theo tính toán của của các nhà khoa học,
tổng khối lượng vật chất hữu cơ trong toàn bộ các đá
trầm tích là 3,8. 1015 tấn.
Thực vật tổng hợp hydratcacbon trực tiếp từ khí
ôxitcacbon, nước, các khoáng chất tan trong đất và
nước để tạo ra các tế bào của ḿnh. Động vật ăn cỏ
sử dụng các chất hữu cơ do thực vật tổng hợp. Động
vật ăn thịt sử dụng động vật ăn cỏ làm thức ăn. Tất
cả thức ăn thừa, xác chết của động thực vật được vi
khuẩn và nấm phân hủy thành các hợp chất đơn giản
làm chất dinh dưỡng cho thực vật. Các chất dinh
dưỡng theo chu tŕnh tuần hoàn trên chuyển vận từ
đất, nước, không khí, đất đá và các cơ thể sống nhờ
nguồn năng lượng được cung cấp từ mặt trời. Đó gọi
là Chu tŕnh dinh dưỡng.
Trong thành phần của tế bào sống có mặt hầu hết các
nguyên tố hoá học quan trọng của sinh quyển. Hàm
lượng của các nguyên tố hoá học chứa trong các tế
bào sống sắp xếp theo trật tự từ cao xuống thấp như
sau: C - H - O - N - P - Ca - Cl- Cu- Fe- Mg- K- Na-
S- Al- B- Br- Cr- Co- F- Ga- I- Mn- Mo- Se- Si- Sn-
Ti- V- Zn. Nồng độ của các nguyên tố trên trong các
loài sinh vật thay đổi, phụ thuộc vào từng loại và
đặc điểm môi trường sống của các cá thể.
"Hệ
sinh thái là hệ thống các quần thể sinh vật sống
chung và phát triển trong một môi trường nhất định,
quan hệ tương tác với nhau và với môi trường đó".
Theo độ lớn, hệ sinh thái có thể chia thành hệ sinh
thái nhỏ (bể nuôi cá), hệ sinh thái vừa (một thảm
rừng, một hồ chứa nước), hệ sinh thái lớn (đại
dương). Tập hợp tất cả các hệ sinh thái trên bề mặt
trái đất thành một hệ sinh thái khổng lồ sinh thái
quyển (sinh quyển). Hệ sinh thái bao gồm hai thành
phần: Vô sinh (nước, không khí,...) và sinh vật.
Giữa hai thành phần trên luôn luôn có sự trao đổi
chất, năng lượng và thông tin.
Sinh vật trong hệ sinh thái được chia làm ba loại:
Trong hệ sinh thái liên tục xảy ra quá tŕnh tổng
hợp và phân huỷ vật chất hữu cơ và năng lượng. Ṿng
tuần hoàn vật chất trong hệ sinh thái là ṿng kín,
c̣n ṿng tuần hoàn năng lượng là ṿng hở. Như vậy,
năng lượng mặt trời được sinh vật sản xuất tiếp nhận
sẽ di chuyển tới sinh vật tiêu thụ các bậc cao hơn.
Trong quá tŕnh đó, năng lượng bị phát tán và thu
nhỏ về kích thước. Trái lại, các nguyên tố hoá học
tham gia vào quá tŕnh tổng hợp chất hữu cơ sau một
chu tŕnh tuần hoàn sẽ trở lại trạng thái ban đầu
trong môi trường.
"Cân
bằng sinh thái là trạng thái ổn định tự nhiên của hệ
sinh thái, hướng tới sự thích nghi cao nhất với điều
kiện sống".
Trong một hệ sinh thái, vật chất luân chuyển từ
thành phần này sang thành phần khác. Đây là một chu
tŕnh tương đối khép kín. Trong điều kiện b́nh
thường, tương quan giữa các thành phần của hệ sinh
thái tự nhiên là cân bằng.
Ví
dụ: Trong một hệ sinh thái rừng, thực vật lấy dinh
dưỡng từ đất tổng hợp thành chất hữu cơ. Chất hữu cơ
này đủ để một phần nuôi dưỡng phát triển cây, một
phần nuôi động vật ăn thực vật trong rừng, một phần
rơi rụng, trả lại màu cho đất. Động vật ăn thực vật
phát triển vừa đủ để tiêu thụ hết phần thức ăn thiên
nhiên dành cho nó. Phân, xác động vật và lá rụng,
cành rơi trên mặt đất được vi sinh vật phân huỷ hết
để trả lại cho đất chất dinh dưỡng nuôi cây. Do vậy
đất rừng luôn màu mỡ, giàu chất hữu cơ, nhiều vi
sinh vật và côn trùng, cây rừng đa dạng và tươi tốt,
động vật phong phú. Đó chính là cân bằng sinh thái.
Cân bằng sinh thái không phải là một trạng thái tĩnh
của hệ. Khi có một tác nhân nào đó của môi trường
bên ngoài, tác động tới bất kỳ một thành phần nào đó
của hệ, nó sẽ biến đổi. Sự biến đổi của một thành
phần trong hệ sẽ kéo theo sự biến đổi của các thành
phần kế tiếp, dẫn đến sự biến đổi cả hệ. Sau một
thời gian, hệ sẽ thiết lập được một cân bằng mới,
khác với t́nh trạng cân bằng trước khi bị tác động.
Bằng cách đó hệ biến đổi mà vẫn cân bằng. Trong quá
tŕnh này động vật ăn cỏ và vi sinh vật đóng vai tṛ
chủ đạo đối với việc kiểm soát sự phát triển của
thực vật.
Khả năng thiết lập trạng thái cân bằng mới của hệ là
có hạn. Nếu một thành phần nào đó của hệ bị tác động
quá mạnh, nó sẽ không khôi phục lại được, kéo theo
sự suy thoái của các thành phần kế tiếp, làm cho
toàn hệ mất cân bằng, suy thoái. Hệ sinh thái càng
đa dạng, nhiều thành phần th́ trạng thái cân bằng
của hệ càng ổn định. V́ vậy, các hệ sinh thái tự
nhiên bền vững có đặc điểm là có rất nhiều loài, mỗi
loài là thức ăn cho nhiều loài khác nhau. Ví dụ như:
trên các cánh đồng cỏ, chuột thường xuyên bị rắn,
chó sói, cáo, chim ưng, cú mèo... săn bắt. B́nh
thường số lượng chim, trăn, thú, chuột cân bằng với
nhau. Khi con người t́m bắt rắn và chim th́ chuột
mất kẻ thù, thế là chúng được dịp sinh sôi nảy nở.
Cân bằng sinh thái là trạng thái ổn định tự nhiên
của hệ sinh thái, hướng tới sự thích nghi cao nhất
với điều kiện sống. Cân bằng sinh thái được tạo ra
bởi chính bản thân hệ và chỉ tồn tại được khi các
điều kiện tồn tại và phát triển của từng thành phần
trong hệ được đảm bảo và tương đối ổn định. Con
người cần phải hiểu rơ các hệ sinh thái và cân nhắc
kỹ trước khi tác động lên một thành phần nào đó của
hệ, để không gây suy thoái, mất cân bằng cho hệ sinh
thái.
Những nhà vi sinh vật học chỉ biết được khoảng 4.000
loài vi khuẩn v́ rất khó nuôi cấy và phân loại những
mẫu vật này. Việc lấy mẫu khó khăn đă cản trở việc
nghiên cứu, t́m hiểu về sự đa dạng sinh học trong
môi trường đại dương, nơi rất giàu có về đa dạng
sinh học. Cả một ngành động vật mới, ngành
Loricifera, được biết đến lần đầu tiên năm 1983 nhờ
những mẫu vật lấy từ đáy biển sâu và sẽ không sai
lầm khi nói rằng hiện c̣n nhiều loài sinh vật vẫn
chưa được loài người phát hiện.
Khu rừng mưa nhiệt đới hẻo lánh ở bắc Trường Sơn nằm
ở biên giới giữa Lào và Việt Nam vừa mới được các
nhà sinh học để tâm nghiên cứu trong thời gian gần
đây.
Một điều kỳ diệu đă xảy ra, tại đây họ đă phát hiện
6 loài thú mới cho khoa học, đó là loài Mang lớn,
Sao la, Mang Trường Sơn, Mang Pù hoạt, Ḅ sừng xoắn,
Cầy Tây Nguyên (Linden, 1994; Đặng Huy Huỳnh, 1997;
Phạm B́nh Quyền, Trương Quang Học, 1997, 1998; Vơ
Quư, 1996, 1997).
Sự
tuyệt chủng là ǵ?
"Một
loài bị coi là tuyệt chủng khi không c̣n một cá thể
nào của loài đó c̣n sống sót tại bất kỳ nơi nào trên
thế giới".
Nếu như một số cá thể của loài c̣n sót lại chỉ nhờ
vào sự kiểm soát, chăm sóc, nuôi dưỡng của con
người, th́ loài này được gọi là đă bị tuyệt chủng
trong thiên nhiên hoang dă. Nhiều loài đă bị
tuyệt chủng trong thiên nhiên hoang dă nhưng vẫn
sống b́nh thường trong điều kiện nuôi nhốt. Do đó
h́nh thành hai khái niệm: Tuyệt chủng trên phạm
vi toàn cầu và tuyệt chủng cục bộ. Một số
nhà sinh học sử dụng thuật ngữ loài bị tuyệt
chủng về phương diện sinh thái học, điều đó có
nghĩa là số lượng loài c̣n lại ít đến nỗi tác động
của chúng không có chút ư nghĩa nào đối với các loài
khác trong quần xă. Ví dụ, loài hổ hiện nay bị tuyệt
chủng về phương diện sinh thái học, có nghĩa là số
hổ hiện c̣n trong thiên nhiên rất ít, tác động của
chúng đến quần thể động vật mồi là không đáng kể.
Khi quần thể của loài có số lượng cá thể dưới mức
báo động, nhiều khả năng loài sẽ bị tuyệt chủng. Đối
với một số quần thể trong tự nhiên, một vài cá thể
vẫn c̣n có thể sống sót dai dẳng vài năm, vài chục
năm, có thể vẫn sinh sản nhưng số phận cuối cùng vẫn
là sự tuyệt chủng (nếu không có sự can thiệp của
công nghệ sinh học). Để bảo tồn một loài nào đó
trước hết phải t́m được nguyên nhân chủ yếu dẫn đến
sự tuyệt chủng, phải xác định được con người đă làm
ǵ ảnh hưởng đến sự ổn định quần thể của loài và làm
cho loài bị tuyệt chủng.
Hoạt động đầu tiên của con người gây nên sự tuyệt
chủng là việc tiêu diệt các loài thú lớn tại châu
Úc, Bắc và Nam Mỹ cách đây hàng ngàn năm khi bắt đầu
chế độ thực dân tại những châu lục này. Trong một
thời gian rất ngắn, sau khi con người khai phá những
vùng đất này đă có từ 74% đến 86% các loài động vật
lớn (có trọng lượng cơ thể trên 44 kg) ở đây bị
tuyệt chủng mà một trong những nguyên nhân trực tiếp
là do việc săn bắt và gián tiếp do việc đốt, phá
rừng.
Sự
tuyệt chủng của các loài chim, thú được nghiên cứu
nhiều và dễ nhận biết. 99% sự tuyệt chủng của các
loài khác trên thế giới hiện nay chỉ là những dự báo
sơ bộ. Mặc dù vậy ngay cả với các loài thú và chim,
những số liệu về sự tuyệt chủng cũng không có những
con số chính xác, một số loài đă được xem là tuyệt
chủng vẫn được phát hiện lại, và một số loài tưởng
như vẫn c̣n tồn tại th́ rất có thể đă bị tuyệt
chủng.
Theo thống kê khoảng 85 loài thú và 113 loài chim đă
bị tuyệt chủng từ năm 1600, tương ứng 2,1% các loài
thú và 1,3% các loài chim. Tốc độ tuyệt chủng đối
với các loài thú và chim là khoảng 1 loài trong 10
năm tại thời điểm từ 1600-1700, nhưng tốc độ này
tăng dần lên đến 1 loài/năm vào thời gian từ
1850-1950. Rất nhiều loài về nguyên tắc vẫn chưa bị
tuyệt chủng nhưng đang tiếp tục là đối tượng săn bắt
của con người và chỉ c̣n tồn tại với một số lượng
rất ít như tê giác, hổ... ở Việt Nam. Những loài này
có thể coi như đă bị tuyệt chủng về phương diện sinh
thái học v́ số lượng của chúng ít đến nỗi không đóng
vai tṛ ǵ trong cơ cấu quần xă. Nguy cơ đối với các
loài cá nước ngọt và động vật thân mềm cũng đáng lo
ngại. Các loài thực vật cũng bị đe dọa, nhóm thực
vật hạt trần và cọ là những nhóm đặc biệt dễ bị
tuyệt chủng. Sự tuyệt chủng đáng ra chỉ là một quá
tŕnh tự nhiên, nhưng 99% số loài bị tuyệt chủng chủ
yếu do con người gây ra.
Trong lịch sử các thời kỳ địa lư trước đây đa dạng
sinh học tương đối ổn định nhờ sự cân bằng giữa sự
tiến hóa h́nh thành loài mới và sự tuyệt diệt loài
cũ. Tuy vậy, những hoạt động của con người đă làm
cho tốc độ tuyệt chủng vượt xa nhiều lần tốc độ h́nh
thành loài. Sự mất mát các loài xảy ra như trong
thời gian hiện nay đă không theo bất kỳ một quy luật
nào và hậu quả trong tương lai là khôn lường và
không thể nào cứu văn nổi.
Theo thống kê từ đầu thế kỷ XX, mỗi năm có một loài
sinh vật bị tuyệt chủng. Trong những năm của thập kỷ
80, mỗi giờ có một loài sinh vật bị biến mất. Dự
đoán trong thế kỷ tới, sẽ có khoảng 50 vạn đến một
triệu loài sinh vật không c̣n có mặt trên trái đất.
Rơ ràng là sự tuyệt chủng của các loài sinh vật đang
gia tăng. Trên thế giới, đă có những Công ước quốc
tế về bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ động thực vật
quư hiếm có tên trong Sách Đỏ. Ở Trung Quốc, cách
đây không lâu có người đă từng bị lĩnh án tử h́nh
chỉ v́ giết gấu mèo.
Tại sao con người lại phải quan tâm nhiều đến các
loài động thực vật sắp bị tuyệt chủng như vậy?
Mỗi loài động thực vật đều là sản phẩm của một quá
tŕnh tiến hoá rất lâu dài. Trong quá tŕnh đó, mỗi
loài đă tự tích luỹ cho riêng ḿnh những gien chống
chịu với bệnh tật, với sự thay đổi khí hậu và các
điều kiện sống khác. Do đó các sinh vật hoang dại
đều khoẻ mạnh, khó bị bệnh tật tiêu diệt và có khả
năng thích nghi cao. Đó là những ngân hàng gien sống
quư hiếm. Điều kiện sống thay đổi liên tục, nếu để
mất đi bất cứ loài nào, th́ thiên nhiên sẽ không bao
giờ có thể tái tạo lại được kiểu gen riêng của loài
đó.
Mỗi sinh vật có một vai tṛ nhất định trong hệ sinh
thái, là một mắt xích khép kín chu tŕnh tuần hoàn
vật chất của hệ. Hệ càng có nhiều loài, càng đa dạng
th́ càng bền vững. Mất đi một loài là giảm tính đa
dạng sinh học của cả hệ. Làm cho đời sau không c̣n
được chiêm ngưỡng chúng sống động nữa. Mỗi sinh vật
ẩn chứa trong ḿnh rất nhiều bí ẩn mà đời nay chưa
thể khám phá ra hết được. Làm mất đi một loài, là
chúng ta làm cho đời sau mất đi một đối tượng để
nghiên cứu, mất đi một h́nh mẫu lư tưởng để mô phỏng
theo.
Tóm lại, mỗi loài đều có vị trí và vai tṛ nhất định
trong tự nhiên mà loài khác không thể thay thế được.
Chính v́ thế mà con người cần đặc biệt quan tâm tới
các loài sắp bị tuyệt chủng.
Trên trái đất có khoảng 1 triệu loài côn trùng,
trong số đó, chỉ có 500 loài chuyên phá hoại lúa màu
và cây ăn quả. Tại Mỹ, mỗi năm sâu bọ phá huỷ tới
33% tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp (tương ứng
trên 14 tỉ đô la). Ở Trung Quốc mỗi năm sâu bọ gây
tổn thất 10% sản lượng lương thực, 33% sản lượng rau
xanh và 40% sản lượng các trái cây các loại. Côn
trùng c̣n là vật trung gian truyền bệnh đáng lo
ngại. Ví dụ như trên ḿnh con gián sống trong nhà,
người ta đă t́m thấy 14 loại vi khuẩn gây các bệnh
hen, viêm mũi, phổi, viêm kết mạc mắt, viêm dạ dày,
ruột non,...
Nhưng cũng có rất nhiều loài côn trùng có ích cho
con người. Chúng tiêu diệt các loại côn trùng có
hại, bảo vệ nông sản. Chúng được gọi là các loài
thiên địch có sẵn trong tự nhiên. Nghiă là các kẻ
thù của sâu hại, nhờ chúng, cây trồng được bảo vệ.
Trung Quốc đă thống kê được 700 loài thiên địch,
trong đó có 200 loài thường gặp.
Các loài côn trùng có ích tiêu diệt sâu hại bằng hai
cách: bắt mồi và kư sinh. Côn trùng có tính bắt mồi
như bọ rùa, chuồn cỏ, bọ ngựa... có thể ăn trứng,
sâu non của nhiều loài sâu có hại. Một con bọ rùa
chấm có thể ăn trên 130 con rệp muội mỗi ngày. Các
loài ong kén, ong mắt đỏ... thuộc loại ong kư sinh.
Ong mắt đỏ đẻ trứng vào trứng sâu hại, ong kén đẻ
trứng vào cơ thể sâu non và các loại ngài, bướm, ong
non sau khi nở ra sẽ ăn luôn trứng và sâu hại.
Con người từ lâu đă phát hiện ra khả năng quư báu
của các loài thiên địch này và t́m cách gây giống,
nuôi dưỡng, bảo vệ chúng. Sử dụng côn trùng để diệt
sâu hại có lợi rất lớn, bởi v́: Thứ nhất, nó tiêu
diệt có chọn lọc các loài sâu hại. Thứ hai, nó góp
phần hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu hoá học, do đó
giảm được ô nhiễm môi trường và không ảnh hưởng xấu
tới các loài côn trùng có lợi. Tuy nhiên, mỗi loài
côn trùng có ích chỉ tiêu diệt được một vài loài sâu
hại nhất định. Do đó cần phải có những hiểu biết sâu
sắc về các loài côn trùng th́ việc sử dụng phương
pháp thiên địch để diệt trừ sâu hại mới đạt kết quả
tốt.
Một số loài côn trùng có khả năng làm sạch môi
trường, như con bọ hung xấu xí chuyên ăn phân. Nước
Úc, khi nhập ḅ và cừu về nuôi đă phải nhập kèm
những con bọ hung như vậy từ Trung Quốc để dọn phân
ḅ, cừu.
Một số côn trùng có tác dụng cải tạo đất như giun,
dế... Giun đất ăn hỗn độn nhiều thứ đất, cát, xác
động, thực vật. Các thức ăn này được nghiền nát và
được phân huỷ một phần bởi các dịch tiêu hoá trong
ruột giun. Một phần chất dinh dưỡng được giun hấp
thụ. Phần c̣n lại sẽ thải ra ngoài dưới dạng các
viên đất - viên phân. Các con giun c̣n liên tục đào
xới đất, do đó chúng giúp cho đất luôn được tơi xốp,
vừa dễ dàng cho cây phát triển, vừa giữ được nước
làm đất luôn ẩm.
Tóm lại, trong số các côn trùng đang sống trên trái
đất có rất nhiều loài có ích, giúp diệt trừ côn
trùng có hại, cải tạo đất, bảo vệ môi trường và tạo
cân bằng sinh thái. Con người phải biết bảo vệ
chúng, tạo điều kiện cho chúng phát triển và phát
huy được tác dụng tích cực ở mức cao nhất.
Các quần xă sinh vật biến đổi rất đa dạng, từ một
vài quần xă không hề chịu tác động bởi các hoạt động
của con người, ví dụ như những quần xă trên thềm đáy
đại dương hay trong những vùng sâu, vùng xa rất hẻo
lánh của rừng nhiệt đới Amazôn tới những quần xă bị
biến đổi lớn như vùng khai mỏ, các vùng đất canh tác
nông nghiệp, khu công nghiệp, các thành phố và các
hồ nhân tạo. Tuy nhiên, cả ở những nơi xa xôi hẻo
lánh nhất của trái đất vẫn có ảnh hưởng của con
người do gia tăng nồng độ cacbonic và khai thác các
sản phẩm tự nhiên có giá trị, và ngược lại, cả ở
những nơi đă bị cải biến lớn vẫn c̣n sót lại những
quần xă sinh vật nguyên bản.
Tính đa dạng sinh học có thể c̣n hiện hữu trong một
số cánh rừng nhiệt đới được chặt chọn, những vùng
đại dương và biển bị đánh bắt quá mức. Khi một khu
bảo tồn được thành lập cần phải có sự ḥa hợp giữa
việc bảo tồn đa dạng sinh học và chức năng của các
hệ sinh thái với việc thỏa măn các nhu cầu trước mắt
cũng như lâu dài của cộng đồng dân cư địa phương và
của Chính phủ đối với các nguồn tài nguyên đó.
Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) đă xây
dựng một hệ thống phân loại các khu bảo tồn, trong
đó định rơ các mức độ sử dụng tài nguyên như sau:
Khu bảo tồn thiên nhiên
là những khu được bảo vệ nghiêm ngặt, chỉ dành
cho các hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo
và quan trắc môi trường. Các khu bảo tồn thiên
nhiên này cho phép ǵn giữ các quần thể của các
loài cũng như các quá tŕnh của hệ sinh thái
không hoặc ít bị nhiễu loạn.
Vườn quốc gia
là những khu vực rộng lớn có vẻ đẹp thiên nhiên
(ở biển hay ở đất liền) được ǵn giữ để bảo vệ
một hoặc vài hệ sinh thái trong đó, đồng thời
được dùng cho các mục đích giáo dục, nghiên cứu
khoa học, nghỉ ngơi giải trí và tham quan du
lịch. Tài nguyên ở đây thường không được phép
khai thác cho mục đích thương mại.
Khu dự trữ thiên nhiên
là những công tŕnh quốc gia, có diện tích hẹp
hơn được thiết lập nhằm bảo tồn những đặc trưng
về sinh học, địa lư, địa chất hay văn hoá của
một địa phương nào đó.
Khu quản lư nơi cư trú của sinh vật hoang dă
có những điểm tương tự với các khu bảo tồn
nghiêm ngặt nhưng cho phép duy tŕ một số hoạt
động để đảm bảo nhu cầu đặc thù của cộng đồng.
Khu bảo tồn cảnh quan trên đất liền và trên biển
được thành lập nhằm bảo tồn các cảnh quan. Ở đây
cho phép khai thác, sử dụng tài nguyên theo cách
cổ truyền, không có tính phá hủy, đặc biệt tại
những nơi mà việc khai thác, sử dụng tài nguyên
đă h́nh thành nên những đặc tính văn hóa, thẩm
mỹ và sinh thái học đặc sắc. Những nơi này tạo
nhiều cơ hội phát triển cho ngành du lịch và
nghỉ ngơi giải trí.
Khu bảo vệ nguồn lợi
được thành lập để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
cho tương lai. Ở đây việc khai thác, sử dụng tài
nguyên được kiểm soát phù hợp với các chính sách
quốc gia.
Các khu bảo tồn sinh quyển và các khu dự trữ
nhân chủng học
được thành lập để bảo tồn nhưng vẫn cho phép các
cộng đồng truyền thống được quyền duy tŕ cuộc
sống của họ mà không có sự can thiệp từ bên
ngoài. Thông thường, cộng đồng trong một chừng
mực nhất định vẫn được phép khai thác các tài
nguyên để đảm bảo cuộc sống của chính họ. Các
phương thức canh tác truyền thống thường vẫn
được áp dụng để sản xuất nông nghiệp.
Các khu quản lư đa dụng
cho phép sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên
thiên nhiên, trong đó có tài nguyên nước, động
vật hoang dă, chăn nuôi gia súc, gỗ, du lịch và
đánh bắt cá. Hoạt động bảo tồn các quần xă sinh
học thường được thực hiện cùng với các hoạt động
khai thác một cách hợp lư.
Năm loại h́nh đầu tiên nêu trên có thể coi là những
khu bảo tồn thực sự, trong đó các nơi cư trú chủ yếu
được quản lư v́ mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học.
Mục đích đầu tiên cho các khu trong ba loại h́nh c̣n
lại không phải là để quản lư đa dạng sinh học, mà là
mục tiêu thứ yếu. Các khu quản lư này đôi khi có ư
nghĩa và có tính đa dạng sinh học khá phong phú, đặc
biệt quan trọng v́ chúng thường rộng lớn hơn các khu
bảo tồn rất nhiều.
Hiện nay, Chính phủ Việt Nam đang rà soát, sắp xếp
lại hệ thống các khu bảo tồn gồm 11 Vườn Quốc gia,
61 khu Bảo tồn thiên nhiên và 34 khu rừng Văn hoá -
Lịch sử - Môi trường. Các Vườn quốc gia của Việt Nam
có: Vườn quốc gia Ba Bể (Cao Bằng); Vườn quốc gia Ba
V́ (Hà Tây); Vườn quốc gia Bạch Mă (Thừa Thiên Huế);
Vườn quốc gia Bến En (Thanh Hoá); Vườn quốc gia Cát
Bà (Hải Pḥng); Vườn quốc gia Cát Tiên (Đồng Nai);
Vườn quốc gia Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu); Vườn quốc
gia Cúc Phương (Ninh B́nh, Hoà B́nh, Thanh Hoá);
Vườn quốc gia Tam Đảo (Vĩnh Phú, Bắc Thái, Tuyên
Quang); Vườn quốc gia YokDon (DăkLăk); Vườn quốc gia
Tràm Chim (Đồng Tháp).
Hiện nay trên thế giới hầu như nước nào cũng quy
hoạch xây dựng các khu bảo vệ tự nhiên bao gồm các
phong cảnh thiên nhiên độc đáo, các hệ thống sinh
thái điển h́nh, rừng nguyên thủy, khu bảo tồn các
sinh vật quí hiếm,... Các khu vực bảo vệ tự nhiên
vừa là nơi bảo vệ hệ thống sinh thái tự nhiên vừa là
thư viện sống về các loài sinh vật hoang dă. Mục
đích xây dựng các khu bảo vệ tự nhiên là nhằm bảo vệ
một số hệ sinh thái tự nhiên tiêu biểu, động thực
vật quí hiếm, cảnh quan tự nhiên kỳ thú và các di
tích lịch sử nổi tiếng, tránh sự phá hoại của con
người, giúp các nhà khoa học có điều kiện nghiên cứu
khoa học và là nơi dạy học, thực tập lư tưởng cho
các nhà khoa học trẻ tuổi.
Các khu bảo vệ tự nhiên c̣n là nơi tham quan giải
trí cho dân chúng và khách du lịch, đồng thời trên
cơ sở không ảnh hưởng tới mục đích bảo vệ, con người
có thể khai thác từng phần nguồn tài nguyên quí báu
của thiên nhiên để phát triển sản xuất. Qua đó chúng
ta có thể thấy việc xây dựng các khu bảo vệ tự nhiên
có ư nghĩa rất quan trọng đối với việc phát triển
khoa học, văn hoá, bảo vệ môi trường và thúc đẩy sản
xuất.
Trong các quan hệ trên 2 loại quan hệ giữ vai tṛ
quan trọng trong việc duy tŕ cân bằng sinh thái tự
nhiên là quan hệ thú dữ - con mồi và quan hệ kư
sinh. Quan hệ thú dữ - con mồi giúp cho quần thể con
mồi duy tŕ tính chống chịu cao với thiên nhiên,
không phát triển bùng nổ về số lượng cá thể. Quan hệ
kư sinh giúp cho việc diệt trừ sâu bệnh và các loài
có hại đối với con người giữ cho số lượng sâu bệnh
nằm trong giới hạn nhất định.
Con người là một sinh vật của hệ sinh thái có số
lượng lớn và khả năng hoạt động được nâng cao nhờ
khoa học kỹ thuật. Tác động của con người đối với hệ
sinh thái rất lớn, có thể phân ra các loại tác động
chính sau đây:
Tác động vào cơ
chế tự ổn định, tự cân bằng của hệ sinh thái
Cơ
chế của hệ sinh thái tự nhiên là tiến tới tỷ lệ P/Rằ
1; P/Bằ 0. Cơ chế này
không có lợi cho con người, v́ con người cần tạo ra
năng lượng cần thiết cho ḿnh bằng cách tạo ra hệ
sinh thái có P/R > 1 và P/B > 0. Do vậy, con người
thường tạo ra các hệ sinh thái nhân tạo (đồng cỏ
chăn nuôi, đất trồng lương thực thực phẩm). Các hệ
sinh thái này thường kém ổn định. Để duy tŕ các hệ
sinh thái nhân tạo, con người phải bổ sung thêm năng
lượng dưới dạng sức lao động, xăng dầu, phân bón.
Con người sử dụng năng lượng hoá thạch, tạo thêm một
lượng lớn khí CO2, SO2 v.v....
Mỗi năm con người tạo thêm 550 tỷ tấn CO2
do đốt các loại nhiên liệu hoá thạch đang làm thay
đổi cân bằng sinh thái tự nhiên của trái đất, dẫn
tới việc thay đổi chất lượng và quan hệ của các
thành phần môi trường tự nhiên. Đồng thời, các hoạt
động của con người trên trái đất ngăn cản chu tŕnh
tuần hoàn nước, ví dụ đắp đập, xây nhà máy thuỷ
điện, phá rừng đầu nguồn v.v... Việc này có thể gây
ra úng ngập hoặc khô hạn nhiều khu vực, thay đổi
điều kiện sống b́nh thường của các sinh vật nước
v.v...
Sinh học bảo tồn ra đời v́ các khoa học ứng dụng
truyền thống không c̣n đủ cơ sở để giải thích những
mối đe dọa cấp bách đối với đa dạng sinh học. Nông
nghiệp, lâm nghiệp, quản lư động vật hoang dă, sinh
học thủy sản,... chủ yếu quan tâm đến vấn đề xây
dựng các phương pháp quản lư một số ít các loài có
giá trị kinh tế và làm cảnh. Những khoa học này
thường không đề cập đến việc bảo vệ tất cả các loài
có thể có trong các quần xă sinh vật, hoặc chỉ đề
cập như là vấn đề không quan trọng. Sinh học bảo tồn
bổ sung các nguyên tắc ứng dụng bằng cách cung cấp
phương pháp tiếp cận có tính chất lư thuyết tổng thể
cho việc bảo tồn đa dạng sinh học. Sinh học bảo tồn
khác với các khoa học khác ở chỗ là bảo tồn một cách
lâu dài toàn bộ các quần xă sinh vật là chính, các
yếu tố kinh tế thường là thứ yếu. Các khoa học kinh
điển như sinh học quần thể, phân loại học, sinh thái
học, và di truyền học... là nội dung cơ bản của sinh
học bảo tồn.
Rừng là lá phổi xanh của trái đất. Cây xanh, trong
quá tŕnh quang hợp, hấp thụ khí cacbonic và nhả ra
khí ôxy cần thiết cho sự sống.
Rừng có tác dụng làm trong sạch không khí. Tán lá
cản và giữ bụi. Lá cây tiết ra nhiều loại chất kháng
khuẩn có tác dụng tiêu diệt vi trùng gây bệnh trong
không khí.
Rừng là nơi sinh sống của nhiều loài động vật hoang
dă, trong đó có nhiều loài quư hiếm. Trong rừng có
nhiều loại cây khác nhau. Đây là nguồn thực phẩm,
nguồn nguyên liệu quư cho công nghiệp và dược phẩm,
là nguồn gen hoang dại có giá trị trong lai tạo
giống mới cho nông nghiệp và chăn nuôi.
Rừng bảo vệ và cải tạo đất. Nhờ có tán lá xoè rộng
như chiếc ô, nước mưa không xối thẳng xuống mặt đất,
nắng không đốt cháy mặt đất, nên lớp đất trên mặt
khó bị rửa trôi theo nước mưa. Rừng nuôi đất, bồi bổ
cho đất.
Đất rừng hầu như tự bón phân, v́ cành lá rơi rụng từ
cây sẽ bị phân huỷ, tạo thành các chất dinh dưỡng,
làm tăng độ màu mỡ của đất. Đất ph́ nhiêu, tơi xốp
sẽ thấm tốt, giữ nước tốt và hạn chế xói ṃn. Vùng
băi triều ven biển có các rừng sú, vẹt, đước, vừa
chắn sóng, vừa giữ phù sa, làm cho bờ biển không
những không bị xói, mà c̣n được bồi đắp và tiến ra
phía trước.
Rừng có tác dụng điều hoà ḍng chảy trong sông ng̣i
và dưới đất. Nước mưa rơi xuống vùng có rừng bị giữ
lại nhiều hơn trong tán cây và trong đất, do đó
lượng ḍng chảy do mưa trong mùa lũ giảm đi. Rừng
cản không cho ḍng chảy mặt chảy quá nhanh, làm cho
lũ xuất hiện chậm hơn, giảm mức độ đột ngột và ác
liệt của từng trận lũ. Nước thấm xuống đất rừng vừa
là nguồn dự trữ nuôi cây và các sinh vật sống trong
đất, vừa chảy rất chậm về nuôi các sông trong thời
gian không mưa. Do đó những vùng có nhiều rừng che
phủ sẽ giảm bớt được thiên tai hạn hán và lũ lụt.
Rừng càng nằm gần đầu nguồn sông, tác dụng điều hoà
ḍng chảy càng lớn hơn.
Rừng có giá trị lớn về du lịch. V́ rừng có nhiều
phong cảnh đẹp, với nhiều loại động thực vật hoang
dă, lôi cuốn sự ham hiểu biết, trí ṭ ṃ của mọi
người. Khí hậu trong rừng mát mẻ, điều hoà, không
khí sạch sẽ c̣n có tác dụng chữa bệnh rất tốt.
Nói tóm lại, rừng có giá trị nhiều mặt cho con
người. V́ các nhu cầu ngày càng tăng của ḿnh, con
người không thể không khai thác rừng. Tuy nhiên, nếu
biết khai thác một cách hợp lư và có kế hoạch trồng
rừng thích hợp, chúng ta sẽ vẫn vừa thoả măn được
các nhu cầu của ḿnh, vừa không làm tổn hại đến
rừng.
Trái đất ngày xưa phủ kín một màu xanh của cây cối.
Hồi đầu thế kỷ này ngay Hà Nội của chúng ta cũng c̣n
nằm sát rừng. Vậy mà bây giờ rừng đă lùi xa khỏi các
điểm tập trung dân cư. Chỉ tính riêng ở vùng Hà Nội,
trung b́nh mỗi năm rừng lùi xa khỏi chúng ta khoảng
1 km. V́ sao vậy?
Rừng bị chặt phá trước tiên là để lấy đất làm nông
nghiệp, trồng cây công nghiệp, nuôi thuỷ sản, xây
dựng... Những vùng đất bằng phẳng, màu mỡ bị chuyển
hoá thành đất nông nghiệp c̣n có thể trồng trọt được
lâu dài. Hiện nay, những vùng như vậy hầu như đă bị
khai thác hết. C̣n những vùng đất dốc, kém ph́
nhiêu, sau khi bị chuyển đổi thành đất nông nghiệp,
thường cho năng suất thấp, rất dễ và nhanh bị bạc
màu, hoặc đ̣i hỏi phải có những đầu tư tốn kém cho
tưới tiêu và cải tạo đất. Rừng ngập mặn ven biển của
Việt Nam đang bị chặt phá để làm ao nuôi tôm. Do
nuôi tôm kiểu quảng canh, không đúng kỹ thuật, nên
năng suất không cao và mỗi ao cũng chỉ cho thu hoạch
được vài năm, sau đó người ta lại đi chặt phá rừng
làm ao mới. Rừng Tây Nguyên đang bị người dân di cư
tự phát đốt phá nham nhở.
Nguyên nhân thứ hai dẫn đến mất rừng là lấy gỗ làm
củi đốt. Cho đến thế kỷ XIX, trước khi khám phá ra
khả năng đốt bằng than và dầu, chất đốt chủ yếu của
con người là củi gỗ. Nhiều nước châu Âu, trong giai
đoạn đầu của cách mạng khoa học kỹ thuật đă đốt gần
hết rừng của ḿnh. Hiện nay, ở nhiều nơi trên thế
giới, củi và than củi vẫn là chất đốt chính trong
gia đ́nh và các bếp đun đang đốt khoảng 1/4 số diện
tích rừng bị tàn phá hàng năm.
Nguyên nhân thứ ba gây mất rừng là do khai thác gỗ.
Gỗ cần cho sản xuất các đồ gia dụng, sản xuất
giấy... Khoa học kỹ thuật càng phát triển, người ta
càng khám phá ra nhiều công dụng mới của gỗ, làm cho
lượng gỗ tiêu thụ ngày càng nhiều. Trong khai thác
gỗ, nếu chỉ chạy theo lợi nhuận, chỗ nào dễ th́ khai
thác trước, không đốn tỉa mà chặt hạ trắng, nghĩa là
chặt từ b́a rừng vào, vừa chặt cây to để lấy gỗ, vừa
phá hoại cây con, th́ những khu vực rừng đă bị chặt
phá sẽ khó cơ hội tự phục hồi lại được.
Nguyên nhân thứ tư gây mất rừng là do cháy. Rừng bị
cháy do đốt rừng làm nương, làm băi săn bắn, dùng
lửa thiếu thận trọng trong rừng, thiên tai, chiến
tranh... Trong mùa khô, chỉ cần một mẩu tàn thuốc lá
cháy dở, một bùi nhùi lửa đuổi ong ra khỏi tổ để lấy
mật cũng đủ gây ra một đám cháy rừng lớn trong nhiều
ngày, nhất là khi không có đủ nước, nhân lực và
phương tiện để dập tắt lửa.
Chiến tranh không phải là hiện tượng phổ biến,
thường xuyên. Tuy nhiên các cuộc chiến tranh thường
có sức tàn phá ghê gớm. Ở Việt Nam, từ 1945 cho đến
nay mất khoảng hơn 2 triệu hecta. Nhiều vùng rừng bị
chất độc hoá học tàn phá đến nay vẫn chưa mọc lại
được.
Nói tóm lại, có năm nguyên nhân chính gây mất rừng
là lấy đất, lấy gỗ, lấy củi, cháy rừng và chiến
tranh. Trong đó mất rừng do cháy và chiến tranh là
sự mất mát phi lư nhất, v́ nó chẳng đem lại điều ǵ
tốt đẹp cho con người. Việc phá rừng lấy đất, lấy
gỗ, củi bừa băi thực tế chỉ nhằm phục vụ cho lợi ích
của một số cá nhân nào đó. Cái lợi mà việc làm đó
đem lại nhỏ hơn nhiều so với cái hại mà nó gây ra.
V́ mất rừng là trái đất mất cỗ máy sản xuất ôxy,
động vật mất nơi cư trú, nhiều loại cây quí, lâu năm
bị tuyệt giống, lũ lụt và hạn hán trở nên trầm trọng
hơn... Hy vọng rằng bằng việc áp dụng thành công các
tiến bộ khoa học kỹ thuật và sử dụng tiết kiệm, hợp
lư tài nguyên đất, rừng, tăng cường trồng và bảo vệ
rừng, diện tích rừng trên trái đất sẽ không bị giảm
có thể tăng lên.
Theo tính toán của các nhà khoa học, các hàng cây
với khoảng cách phù hợp sẽ cản được 30% tốc độ gió
và có khả năng bảo vệ phạm vi đất đai gấp hơn 2 lần
chiều cao của cây. Ở những nơi có gió cát và hạn hán
nghiêm trọng, việc trồng những hàng cây phi lao ngăn
gió cát rất có tác dụng cải thiện môi trường sinh
thái đất đai.
Rừng là chiếc ô bảo vệ mặt đất. Khi trớ mưa, do tán
lá cây hứng đỡ nên nước mưa không trực tiếp xối
xuống mặt đất, điều này có ư nghĩa rất lớn đối với
việc pḥng chống xói ṃn. Thực tế cho thấy, nếu nước
mưa trực tiếp xối vào mặt đất th́ mỗi năm một hecta
đất trồng hoa bị xói ṃn 20 tấn, đất trồng cỏ bị xói
ṃn 1 tấn, trong khi đó đất trồng rừng chỉ bị xói
ṃn 0,1 tấn. Mặt đất trong rừng có nhiều cành và lá
cây khô, nước mưa rơi xuống mặt đất không thể xối
thằng vào đất, cũng không thể chảy nhanh mà ngầm
chảy từ từ. Đó là vật cản quan trọng khiến mưa to
không gây ra lũ lụt và rất có ích đối với việc bảo
vệ đồng ruộng, nhà cửa.
Cây cối cũng là những "anh hùng" hút bụi, chống ô
nhiễm. Lá của một số loại cây có những nếp nhăn, có
lông nhám, thậm chí có loại lá c̣n tiết ra chất
"nhựa" diệt vi khuẩn. V́ vậy cây cối vừa có khả năng
hút bụi vừa có khả năng tiêu diệt vi khuẩn. Ngay như
cây thông, tuy có diện tích bề mặt lá rất nhỏ, nhưng
khả năng hút bụi và diệt vi khuẩn lại rất lớn. Ta có
thể nhận biết khả năng hút bụi diệt khuẩn của cây
cối qua việc giám định không khí trong công viên và
trong cửa hàng bách hoá hoặc bến tàu xe. Mỗi mét
khối không khí trong công viên chỉ có 2.000-3.000 vi
khuẩn, nhưng một mét khối không khí trong cửa hàng,
bến tàu xe có tới 20.000-30.000 con.
Hiện nay, trên thế giới lượng khí cacbonic thải ra
ngày một tăng. Biện pháp duy nhất để giải quyết vấn
đề này là trồng nhiều cây xanh, v́ cây xanh có khả
năng hấp thụ khí cacbonic. Trung b́nh 1 hecta cây
tán lá rộng có thể hấp thụ được 1 tấn khí
cacbonic/ngày và nhả ra 730kg khí oxy. Lượng khí
cacbonic do 1 người thải ra trong 1 ngày sẽ được 10m2
cây xanh hút hết. Ngoài ra cây xanh c̣n hấp thụ
tiếng ồn, hấp thụ một số chất ô nhiễm trong không
khí và một số nguyên tố kim loại nặng trong đất.
Việc ǵ có lợi cho con người là cây xanh đều cố sức
phụng sự rất tận tụy, xứng đáng là vệ sĩ trung thành
của loài người.
Cây xanh có khả năng rất lớn trong việc chống gió,
giữ nước, chống ô nhiễm, nhưng khả năng tự bảo vệ
của chúng lại có hạn. Chúng cần sự che chở bảo vệ
của con người. Cây xanh cống hiến cho con người quá
nhiều, chúng ta cần yêu mến và trân trọng bảo vệ
chúng.
Tài nguyên là ǵ? Có những loại tài nguyên nào?
"Tài
nguyên là tất cả các dạng vật chất, tri thức được sử
dụng để tạo ra của cải vật chất, hoặc tạo ra giá trị
sử dụng mới của con người".
Tài nguyên là đối tượng sản xuất của con người. Xă
hội loài người càng phát triển, số loại h́nh tài
nguyên và số lượng mỗi loại tài nguyên được con
người khai thác ngày càng tăng.
Tài nguyên con người (tài nguyên xă hội) là một dạng
tài nguyên tái tạo đặc biệt, thể hiện bởi sức lao
động chân tay và trí óc, khả năng tổ chức và chế độ
xă hội, tập quán, tín ngưỡng của các cộng đồng
người.
Sự
phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đang làm
thay đổi giá trị của nhiều loại tài nguyên. Nhiều
tài nguyên cạn kiệt trở nên quư hiếm; nhiều loại tài
nguyên giá trị cao trước đây nay trở thành phổ biến,
giá rẻ do t́m được phương pháp chế biến hiệu quả
hơn, hoặc được thay thế bằng loại khác. Vai tṛ và
giá trị của tài nguyên thông tin, văn hoá lịch sử
đang tăng lên.
Một hecta rừng hàng năm tạo nên sinh khối khoảng 300
- 500 kg, 16 tấn oxy (rừng thông 30 tấn, rừng trồng
3 - 10 tấn). Mỗi người một năm cần 4.000kg O2
tương ứng với lượng oxy do 1.000 - 3.000 m2
cây xanh tạo ra trong năm. Nhiệt độ không khí rừng
thường thấp hơn nhiệt độ đất trống khoảng 3 - 5oC.
Rừng bảo vệ và ngăn chặn gió băo. Hệ số ḍng chảy
mặt trên đất có độ che phủ 35% lớn hơn đất có độ che
phủ 75% hai lần. Lượng đất xói ṃn của rừng bằng 10%
lượng đất xói ṃn từ vùng đất không có rừng. Rừng là
nguồn gen vô tận của con người, là nơi cư trú của
các loài động thực vật quư hiếm. V́ vậy, tỷ lệ đất
có rừng che phủ của mỗi quốc gia là một chỉ tiêu
đánh giá chất lượng môi trường quan trọng. Diện tích
đất có rừng của một quốc gia tối ưu phải đạt 45%
tổng diện tích.
Tài nguyên rừng trên trái đất ngày càng bị thu hẹp
về diện tích và trữ lượng.
Tốc độ mất rừng hàng năm trên thế giới là 20 triệu
ha, trong đó rừng nhiệt đới bị mất là lớn nhất, năm
1990 châu Phi và Mỹ La Tinh c̣n 75% diện tích rừng
nhiệt đới, châu Á c̣n 40%. Theo dự báo đến năm 2010
rừng nhiệt đới chỉ c̣n 20 - 25% ở một số nước châu
Phi, châu Mỹ La Tinh và Đông Nam Á. Rừng ôn đới
không giảm về diện tích nhưng chất lượng và trữ
lượng gỗ bị suy giảm đáng kể do ô nhiễm không khí.
Theo tính toán giá trị kinh tế rừng ở châu Âu giảm
30 tỷ USD/năm.
Việt Nam năm 1943 có 13,3 triệu ha rừng, chiếm 43,8%
diện tích đất, hiện nay c̣n 8,5 triệu ha chiếm
23,8%, trong đó 2,8 triệu ha rừng pḥng hộ, 5,2
triệu ha rừng sản xuất, 0,7 triệu ha rừng đặc dụng.
Tốc độ mất rừng ở Việt Nam là 200.000 ha/năm, trong
đó 60.000 ha do khai hoang, 50.000 ha do cháy và
90.000 ha do khai thác gỗ quá mức. Riêng khu vực
Quảng Ninh, tốc độ mất rừng là 2,8% năm. Mặt khác,
trữ lượng gỗ và chất lượng rừng đang bị suy giảm.
Để
bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng Việt Nam, Nhà
nước cần áp dụng các chính sách sau:
"Tài
nguyên khoáng sản là tích tụ vật chất dưới dạng hợp
chất hoặc đơn chất trong vỏ trái đất, mà ở điều kiện
hiện tại con người có đủ khả năng lấy ra các nguyên
tố có ích hoặc sử dụng trực tiếp chúng trong đời
sống hàng ngày".
Tài nguyên khoáng sản thường tập trung trong một khu
vực gọi là mỏ khoáng sản. Tài nguyên khoáng sản có ư
nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế của
loài người và khai thác sử dụng tài nguyên khoáng
sản có tác động mạnh mẽ đến môi trường sống. Một
mặt, tài nguyên khoáng sản là nguồn vật chất để tạo
nên các dạng vật chất có ích và của cải của con
người. Bên cạnh đó, việc khai thác tài nguyên khoáng
sản thường tạo ra các loại ô nhiễm như bụi, kim loại
nặng, các hoá chất độc và hơi khí độc (SO2,
CO, CH4 v.v...).
Tài nguyên khoáng sản được phân loại theo nhiều
cách:
Than đá
là nguồn năng lượng chủ yếu của loài người với tổng
trữ lượng trên 700 tỷ tấn, có khả năng đáp ứng nhu
cầu con người khoảng 180 năm. Tuy nhiên, các vấn đề
môi trường hiện nay đang tồn tại:
Thuỷ năng
được gọi là năng lượng sạch. Tổng trữ lượng thế giới
2.214.000 MW, riêng Việt Nam 30.970 MW chiếm 1,4%
tổng trữ lượng thế giới. Tuy nhiên, việc xây dựng
các hồ chứa nước lớn tạo ra các tác động môi trường
như động đất kích thích, thay đổi khí hậu thời tiết
khu vực, mất đất canh tác, tạo ra lượng CH4
do phân huỷ chất hữu cơ ḷng hồ, tạo ra các biến đổi
thuỷ văn hạ lưu, tăng độ mặn nước sông, ảnh hưởng
đến sự phát triển của các quần thể cá trên sông,
tiềm ẩn tai biến môi trường.
Năng lượng hạt nhân
là nguồn năng lượng giải phóng trong quá tŕnh phân
huỷ hạt nhân các nguyên tố U, Th hoặc tổng hợp nhiệt
hạch. Theo tính toán năng lượng giải phóng ra từ 1g
U235 tương đương với năng lượng do đốt 1
tấn than đá. Nguồn năng lượng hạt nhân có ưu điểm
không tạo nên các loại khí nhà kính như CO2,
bụi. Tuy nhiên, các nhà máy điện hạt nhân hiện nay
là nguồn gây nguy hiểm lớn về môi trường do chất
thải phóng xạ, khí, rắn, lỏng và các sự cố nhà máy.
Sự cố tại nhà máy điện hạt nhân Checnobưn Liên Xô là
một ví dụ điển h́nh.
Các nguồn năng lượng khác
bao gồm các loại:
"Tài
nguyên khí hậu và cảnh quan bao gồm các yếu tố về
thời tiết khí hậu (khí áp, nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ
mặt trời, lượng mưa...) địa h́nh, không gian
trống..."
Các yếu tố khí hậu có vai tṛ to lớn trong đời sống
và sự phát triển của sinh vật và con người. Tác động
của khí hậu đến con người trước hết thông qua nhịp
điệu của chu tŕnh sống: nhịp điệu ngày đêm, nhịp
điệu mùa trong năm, nhịp điệu tháng và tuần trăng.
Các nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy t́nh
trạng sức khoẻ, tốc độ phát triển của sinh vật phụ
thuộc vào thời điểm của các chu tŕnh sống trên.
Cường độ và đặc điểm của bức xạ mặt trời có tác động
mạnh mẽ tới sự phát triển của sinh vật và tăng
trưởng sinh khối.
Khí hậu thời tiết có ảnh hưởng mạnh mẽ tới t́nh
trạng sức khoẻ con người, tạo ra sự tăng độ tử vong
ở một số bệnh tim mạch, các loại bệnh tật theo mùa
v.v... Trong giai đoạn phát triển hiện nay của nền
kinh tế và giao lưu xă hội, khí hậu, thời tiết đang
trở thành một dạng tài nguyên vật chất quan trọng
của con người. Khí hậu thời tiết thích hợp tạo ra
các khu vực du lịch, nuôi trồng một số sản phẩm động
thực vật có giá trị kinh tế cao (hoa, cây thuốc, các
nguồn gen quư hiếm khác.)
Địa h́nh cảnh quan là một dạng tài nguyên mới; nó
tạo ra không gian của môi trường bảo vệ, môi trường
nghỉ ngơi. Địa h́nh hiện tại của bề mặt trái đất là
sản phẩm của các quá tŕnh địa chất lâu dài (nội
sinh, ngoại sinh). Các loại h́nh thái chính của địa
h́nh là đồi núi, đồng bằng, địa h́nh Karst, địa h́nh
ven bờ, các kho nước lớn (biển, sông, hồ). Mỗi loại
h́nh thái địa h́nh chứa đựng những tiềm năng phát
triển kinh tế đặc thù. Thí dụ phát triển du lịch,
phát triển nông, lâm, công nghiệp v.v...
"Quản
lư môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp,
chính sách kinh tế, kỹ thuật, xă hội thích hợp nhằm
bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền
vững kinh tế xă hội quốc gia".
Các mục tiêu chủ yếu của công tác quản lư nhà nước
về môi trường bao gồm:
Nguyên lư về tính thống nhất vật chất thế giới gắn
tự nhiên, con người và xă hội thành một hệ thống
rộng lớn "Tự nhiên - Con người - Xă hội", trong đó
yếu tố con người giữ vai tṛ rất quan trọng. Sự
thống nhất của hệ thống trên được thực hiện trong
các chu tŕnh sinh địa hoá của 5 thành phần cơ bản:
Tính thống nhất của hệ thống "Tự nhiên - Con người -
Xă hội" đ̣i hỏi việc giải quyết vấn đề môi trường và
thực hiện công tác quản lư môi trường phải toàn diện
và hệ thống. Con người nắm bắt cội nguồn sự thống
nhất đó, phải đưa ra các phương sách thích hợp để
giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong hệ thống đó.
V́ chính con người đă góp phần quan trọng vào việc
phá vỡ tất yếu khách quan là sự thống nhất giữa tự
nhiên - con người - xă hội. Sự h́nh thành những
chuyên ngành khoa học như quản lư môi trường, sinh
thái nhân văn là sự t́m kiếm của con người nhằm nắm
bắt và giải quyết các mâu thuẫn, tính thống nhất của
hệ thống "Tự nhiên - Con người - Xă hội".
Quản lư môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật
pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xă hội thích hợp
nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển
bền vững kinh tế xă hội quốc gia. Các nguyên tắc
quản lư môi trường, các công cụ thực hiện việc giám
sát chất lượng môi trường, các phương pháp xử lư môi
trường bị ô nhiễm được xây dựng trên cơ sở sự h́nh
thành và phát triển ngành khoa học môi trường.
Nhờ sự tập trung quan tâm cao độ của các nhà khoa
học thế giới, trong thời gian từ năm 1960 đến nay
nhiều số liệu, tài liệu nghiên cứu về môi trường đă
được tổng kết và biên soạn thành các giáo tŕnh,
chuyên khảo. Trong đó, có nhiều tài liệu cơ sở,
phương pháp luận nghiên cứu môi trường, các nguyên
lư và quy luật môi trường.
Nhờ kỹ thuật và công nghệ môi trường, các vấn đề ô
nhiễm do hoạt động sản xuất của con người đang được
nghiên cứu, xử lư hoặc pḥng tránh, ngăn ngừa. Các
kỹ thuật phân tích, đo đạc, giám sát chất lượng môi
trường như kỹ thuật viễn thám, tin học được phát
triển ở nhiều nước phát triển trên thế giới.
Tóm lại, quản lư môi trường cầu nối giữa khoa học
môi trường với hệ thống tự nhiên - con người - xă
hội đă được phát triển trên nền phát triển của các
bộ môn chuyên ngành.
Quản lư môi trường được h́nh thành trong bối cảnh
của nền kinh tế thị trường và thực hiện điều tiết xă
hội thông qua các công cụ kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động phát triển
và sản xuất của cải vật chất diễn ra dưới sức ép của
sự trao đổi hàng hoá theo giá trị. Loại hàng hoá có
chất lượng tốt và giá thành rẻ sẽ được tiêu thụ
nhanh. Trong khi đó, loại hàng hoá kém chất lượng và
đắt sẽ không có chỗ đứng. V́ vậy, chúng ta có thể
dùng các phương pháp và công cụ kinh tế để đánh giá
và định hướng hoạt động phát triển sản xuất có lợi
cho công tác bảo vệ môi trường.
Các công cụ kinh tế rất đa dạng gồm các loại thuế,
phí và lệ phí, cota ô nhiễm, quy chế đóng góp có bồi
hoàn, trợ cấp kinh tế, nhăn sinh thái, hệ thống các
tiêu chuẩn ISO. Một số ví dụ về phân tích kinh tế
trong quản lư tài nguyên và môi trường như lựa chọn
sản lượng tối ưu cho một hoạt động sản xuất có sinh
ra ô nhiễm Q nào đó, hoặc xác định mức khai thác hợp
lư tài nguyên tái tạo v.v...
Cơ
sở luật pháp của quản lư môi trường là các văn bản
về luật quốc tế và luật quốc gia về lĩnh vực môi
trường.
Luật quốc tế về môi trường là tổng thể các nguyên
tắc, quy phạm quốc tế điều chỉnh mối quan hệ giữa
các quốc gia, giữa quốc gia và tổ chức quốc tế trong
việc ngăn chặn, loại trừ thiệt hại gây ra cho môi
trường của từng quốc gia và môi trường ngoài phạm vi
tàn phá quốc gia. Các văn bản luật quốc tế về môi
trường được h́nh thành một cách chính thức từ thế kỷ
XIX và đầu thế kỷ XX, giữa các quốc gia châu Âu,
châu Mỹ, châu Phi. Từ hội nghị quốc tế về "Môi
trường con người" tổ chức năm 1972 tại Thuỵ Điển và
sau Hội nghị thượng đỉnh Rio 92 có rất nhiều văn bản
về luật quốc tế được soạn thảo và kư kết. Cho đến
nay đă có hàng ngh́n các văn bản luật quốc tế về môi
trường, trong đó nhiều văn bản đă được chính phủ
Việt Nam tham gia kư kết.
Trong phạm vi quốc gia, vấn đề môi trường được đề
cập trong nhiều bộ luật, trong đó Luật Bảo vệ Môi
trường được quốc hội nước Việt Nam thông qua ngày
27/12/1993 là văn bản quan trọng nhất. Chính phủ đă
ban hành Nghị định 175/CP ngày 18/10/1994 về hướng
dẫn thi hành Luật Bảo vệ Môi trường và Nghị định
26/CP ngày 26/4/1996 về Xử phạt vi phạm hành chính
về bảo vệ môi trường. Bộ Luật h́nh sự, hàng loạt các
thông tư, quy định, quyết định của các ngành chức
năng về thực hiện luật môi trường đă được ban hành.
Một số tiêu chuẩn môi trường chủ yếu được soạn thảo
và thông qua. Nhiều khía cạnh bảo vệ môi trường được
đề cập trong các văn bản khác như Luật Khoáng sản,
Luật Dầu khí, Luật Hàng hải, Luật Lao động, Luật Đất
đai, Luật Phát triển và Bảo vệ rừng, Luật Bảo vệ sức
khoẻ của nhân dân, Pháp lệnh về đê điều, Pháp lệnh
về việc bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Pháp luật bảo vệ
các công tŕnh giao thông.
Các văn bản trên cùng với các văn bản về luật quốc
tế được nhà nước Việt Nam phê duyệt là cơ sở quan
trọng để thực hiện công tác quản lư nhà nước về bảo
vệ môi trường.
Công cụ quản lư môi trường là các biện pháp hành
động thực hiện công tác quản lư môi trường của nhà
nước, các tổ chức khoa học và sản xuất. Mỗi một công
cụ có một chức năng và phạm vi tác động nhất định,
liên kết và hỗ trợ lẫn nhau.
Công cụ quản lư môi trường có thể phân loại theo
chức năng gồm: Công cụ điều chỉnh vĩ mô, công cụ
hành động và công cụ hỗ trợ. Công cụ điều chỉnh vĩ
mô là luật pháp và chính sách. Công cụ hành động là
các công cụ có tác động trực tiếp tới hoạt động kinh
tế - xă hội, như các quy định hành chính, quy định
xử phạt v.v... và công cụ kinh tế. Công cụ hành động
là vũ khí quan trọng nhất của các tổ chức môi trường
trong công tác bảo vệ môi trường. Thuộc về loại này
có các công cụ kỹ thuật như GIS, mô h́nh hoá, đánh
giá môi trường, kiểm toán môi trường, quan trắc môi
trường. Công cụ quản lư môi trường có thể phân loại
theo bản chất thành các loại cơ bản sau:
"Kiểm
toán môi trường là công cụ quản lư bao gồm một quá
tŕnh đánh giá có tính hệ thống, định kỳ và khách
quan được văn bản hoá về việc làm thế nào để thực
hiện tổ chức môi trường, quản lư môi trường và trang
thiết bị môi trường hoạt động tốt".
Kiểm toán môi trường phải trả lời được các câu hỏi
mà các nhà quản lư công ty đưa ra:
Kiểm toán môi trường là một công cụ quản lư chỉ có
giá trị khi được h́nh thành trong một hệ thống quản
lư tổng thể. Nó không thể đứng đơn độc. Nó là một
công cụ giám sát trợ giúp việc ra quyết định và giám
sát quản lư.
Các công cụ kinh tế được sử dụng nhằm tác động tới
chi phí và lợi ích trong hoạt động của tổ chức kinh
tế để tạo ra các tác động tới hành vi ứng xử của nhà
sản xuất có lợi cho môi trường. Các công cụ kinh tế
trong quản lư môi trường gồm:
Việc sử dụng các công cụ kinh tế trên ở các nước cho
thấy một số tác động tích cực như các hành vi môi
trường được thuế điều chỉnh một cách tự giác, các
chi phí của xă hội cho công tác bảo vệ môi trường có
hiệu quả hơn, khuyến khích việc nghiên cứu triển
khai kỹ thuật công nghệ có lợi cho bảo vệ môi
trường, gia tăng nguồn thu nhập phục vụ cho công tác
bảo vệ môi trường và cho ngân sách nhà nước, duy tŕ
tốt giá trị môi trường của quốc gia.
Thuế và phí môi trường là các nguồn thu ngân sách do
các tổ chức và cá nhân sử dụng môi trường đóng góp.
Khác với thuế, phần thu về phí môi trường chỉ được
chi cho các hoạt động bảo vệ môi trường.
Dựa vào đối tượng đánh thuế và phí có thể phân ra
các loại sau:
"Phí
dịch vụ môi trường là một dạng phí phải trả khi sử
dụng một số dịch vụ môi trường. Mức phí tương ứng
với chi phí cho dịch vụ môi trường đó. Bên cạnh đó,
phí dịch vụ môi trường c̣n có mục địch hạn chế việc
sử dụng quá mức các dịch vụ môi trường".
Có
hai dạng dịch vụ môi trường chính và theo đó 2 dạng
phí dịch vụ môi trường là dịch vụ cung cấp nước
sạch, xử lư nước thải và dịch vụ thu gom chất thải
rắn. Đối với một số nước nông nghiệp, dịch vụ cung
cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn cũng
là một vấn đề cần quan tâm nghiên cứu để có chính
sách áp dụng phù hợp.
a.
Phí dịch vụ cung cấp nước sạch và xử lư nước thải
Vấn đề cần quan tâm là mức phí dịch vụ cung cấp nước
sạch phải được đặt ra như thế nào để sử dụng nước
một cách tiết kiệm và có hiệu quả nhất. Đối tượng
của loại h́nh dịch vụ này bao gồm các hộ gia đ́nh,
các cơ sở kinh doanh dịch vụ và một số ít các nhà
máy sản xuất công nghiệp quy mô nhỏ. Nội dung của
dịch vụ bao gồm cung cấp nước sạch, thu gom và xử lư
nước thải trước khi thải ra hệ thống thoát nước của
thành phố.
Tuỳ theo mức độ đô thị hoá khác nhau, phí dịch vụ
cung cấp nước sạch có khác nhau, nhưng thường được
quy định trên một nguyên tắc tương đối chung, đó là:
Tổng các nguồn phí thu được phải đủ chi trả cho dịch
vụ cung cấp nước và xử lư nước thải (trừ chi phí xây
dựng cơ bản). Mức phí có thể gồm hai thành phần: Mức
cơ bản cộng với một khoản dịch vụ để điều tiết chi
phí của dịch vụ.
Mức phí cơ bản là khoản chi phí cơ bản cho việc cung
cấp một đơn vị nước sạch đủ để xử lư lượng nước thải
phát sinh khi các hộ gia đ́nh sử dụng một đơn vị
nước sạch đó.
Mức phí dịch vụ có thể được hiểu là chi phí cho việc
mở rộng mạng lưới cung cấp dịch vụ và chi phí vận
hành cung cấp nước sạch và xử lư nước thải.
ë
đây, người ta căn cứ vào mức độ tiêu thụ nước sạch
để có thể xây dựng các trạm cố định hoặc chuyển tiếp
xử lư nước thải để chi phí xử lư nước thải là thấp
nhất, tránh tác động tiêu cực đến giá dịch vụ cung
cấp nước sạch và xử lư nước thải.
b.
Phí dịch vụ thu gom chất thải rắn và rác thải
Chất thải rắn ở đây được hiểu là rác thải sinh hoạt,
rác thải dịch vụ thương mại, kể cả chất thải đô thị
độc hại. Dịch vụ liên quan đến chất thải rắn sẽ có
tác dụng tích cực không chỉ riêng cho môi trường mà
cho cả phat triển kinh tế. Chính v́ thế việc xác
định giá dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lư chất
thải rắn phải được nghiên cứu, xem xét kỹ trên cơ sở
vừa đảm bảo bù đắp được chi phí thu gom, vận chuyển
xử lư vừa gián tiếp khuyến khích các hộ gia đ́nh
giảm thiểu rác thải.
Việc xác định mức phí của dịch vụ môi trường có thể
thuận lợi khi cân nhắc, phân tích các chi phí cần
thiết và dựa trên trọng lượng hoặc thể tích của rác
thải.
Nếu tiếp cận theo khối lượng rác thải th́ các hộ gia
đ́nh phải có thùng đựng rác riêng đặt ở một vị trí
cố định và việc trả phí phải hoàn toàn tự nguyện
trên cơ sở khối lượng rác thải sản sinh ra hàng ngày
hoặc hàng tuần.
C̣n một cách tiếp cận khác là theo số lượng người
trong một gia đ́nh, căn cứ vào số người, ví dụ 3
người một suất phí dịch vụ môi trường v.v... để xác
định mức phí dịch vụ môi trường phải nộp. Theo cách
này có thể không được công bằng nhưng thuận lợi hơn,
tuy nhiên không khuyến khích được các hộ gia đ́nh
giảm thiểu rác thải.
"Côta
gây ô nhiễm là một loại giấy phép xả thải chất thải
có thể chuyển nhượng mà thông qua đó, nhà nước công
nhận quyền các nhà máy, xí nghiệp, v.v... được phép
thải các chất gây ô nhiễm vào môi trường".
Nhà nước xác định tổng lượng chất gây ô nhiễm tối đa
có thể cho phép thải vào môi trường, sau đó phân bổ
cho các nguồn thải bằng cách phát hành những giấy
phép thải gọi là côta gây ô nhemx và chính thức công
nhận quyền được thải một lượng chất gây ô nhiễm nhất
định vào môi trường trong một giai đoạn xác định cho
các nguồn thải.
Khi có mức phân bổ côta gây ô nhiễm ban đầu, người
gây ô nhiễm có quyền mua và bán côta gây ô nhiễm. Họ
có thể linh hoạt chọn lựa giải pháp giảm thiểu mức
phát thải chất gây ô nhiễm với chi phí thấp nhất:
Mua côta gây ô nhiễm để được phép thải chất gây ô
nhiễm vào môi trường hoặc đầu tư xử lư ô nhiễm để
đạt tiêu chuẩn cho phép. Nghĩa là những người gây ô
nhiễm mà chi phí xử lư ô nhiễm thấp hơn so với việc
mua côta gây ô nhiễm th́ họ sẽ bán lại côta gây ô
nhiễm cho những người gây ô nhiễm có mức chi phí cho
xử lư ô nhiễm cao hơn.
Như vậy, sự khác nhau về chi phí đầu tư xử lư ô
nhiễm sẽ thúc đẩy quá tŕnh chuyển nhượng côta gây ô
nhiễm. Thông qua chuyển nhượng, cả người bán và
người mua côta gây ô nhiễm đều có thể giảm được chi
phí đầu tư cho mục đích bảo vệ môi trường, đảm bảo
được chất lượng môi trường.
Kư
quỹ môi trườnglà công cụ kinh tế áp dụng cho
các ngành kinh tế dễ gây ra ô nhiễm môi trường. Nội
dung chính của kư quỹ môi trường là yêu cầu các
doanh nghiệp trước khi đầu tư phải đặt cọc tại ngân
hàng một khoản tiền nào đó đủ lớn để đảm bảo cho
việc thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ và công tác bảo
vệ môi trường. Số tiền kư quỹ phải lớn hơn hoặc xấp
xỉ với kinh phí cần để khắc phục môi trường nếu
doanh nghiệp gây ra ô nhiễm hoặc suy thoái môi
trường.
Trong quá tŕnh thực hiện đầu tư và sản xuất, nếu cơ
sở có các biện pháp chủ động khắc phục, không để xảy
ra ô nhiễm hoặc suy thoái ra môi trường đúng như cam
kết, th́ số tiền kư quỹ sẽ được hoàn trả lại cho
doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp không thực hiện đúng
cam kết hoặc phá sản, số tiền trên sẽ được rút ra từ
tài khoản ngân hàng chi cho công tác khắc phục sự cố
ô nhiễm đồng thời với việc đóng cửa doanh nghiệp.
Kư
quỹ môi trường tạo ra lợi ích, đối với nhà nước
không phải đầu tư kinh phí khắc phục môi trường từ
ngân sách, khuyến khích xí nghiệp hoạt động bảo vệ
môi trường. Xí nghiệp sẽ có lợi ích do lấy lại vốn
khi không xảy ra ô nhiễm hoặc suy thoái môi trường.
Trợ cấp môi trường là công cụ kinh tế quan trọng
được sử dụng ở rất nhiều nước châu Âu thuộc Tổ chức
Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD). Trợ cấp môi
trường gồm các dạng sau:
Chức năng chính của trợ cấp là giúp đỡ các ngành
công nghiệp, nông nghiệp và các ngành khác khắc phục
ô nhiễm môi trường trong điều kiện, khi t́nh trạng ô
nhiễm môi trường quá nặng nề hoặc khả năng tài chính
của doanh nghiệp không chịu đựng được đối với việc
phải xử lư ô nhiễm môi trường. Trợ cấp này chỉ là
biện pháp tạm thời, nếu vận dụng không thích hợp
hoặc kéo dài có thể dẫn đến phi hiệu quả kinh tế, v́
trợ cấp đi ngược với nguyên tắc người gây ô nhiễm
phải trả tiền.
"Nhăn
sinh thái là một danh hiệu của nhà nước cấp cho các
sản phẩm không gây ra ô nhiễm môi trường trong quá
tŕnh sản xuất ra sản phẩm hoặc quá tŕnh sử dụng
các sản phẩm đó".
Được dán nhăn sinh thái là một sự khẳng định uy tín
của sản phẩm và của nhà sản xuất. V́ thế các sản
phẩm có nhăn sinh thái thường có sức cạnh tranh cao
và giá bán ra thị trường cũng thường cao hơn các sản
phẩm cùng loại. Như vậy, nhăn sinh thái là công cụ
kinh tế tác động vào nhà sản xuất thông qua phản ứng
và tâm lư của khách hàng. Do đó, rất nhiều nhà sản
xuất đang đầu tư để sản phẩm của ḿnh được công nhận
là "sản phẩm xanh", được dán "nhăn sinh thái" và
điều kiện để được dán nhăn sinh thái ngày càng khắt
khe hơn. Nhăn sinh thái thường được xem xét và dán
cho các sản phẩm tái chế từ phế thải (nhựa, cao
su,...), các sản phẩm thay thế cho các sản phẩm tác
động xấu đến môi trường, các sản phẩm có tác động
tích cực đến môi trường hoặc hoạt động sản xuất,
kinh doanh sản phẩm đó ảnh hưởng tốt đến môi trường.
"Làng
sinh thái là kết quả thực tế từ một sự mong muốn của
con người nhằm t́m ra một lối sống bền vững dựa trên
thái độ và cách tiếp cận đối với vấn đề loại bỏ chất
thải".
Các mục đích của Làng sinh thái là quy hoạch vật
chất (như sử dụng năng lượng thấp với mức hiệu suất
cao và sản sinh chất thải thấp) và quy hoạch xă hội
(như nâng cấp các giá trị xă hội và văn hoá liên
quan tới giá trị vật chất,...).
Trong Làng sinh thái, nhà ở thường là nhà kiểu năng
lượng thấp (không quá 10.000KWh/năm), đảm bảo không
dùng các nhiên liệu hoá thạch, tránh sử dụng xe hơi,
hàng hoá được tiêu thụ trong các cửa hàng bán lẻ.
Rau, cây ăn quả, hoa và cả cây lấy gỗ được trồng
trên các lô đất tập thể và tư nhân để tự thoả măn
nhu cầu. Các phế thải sinh vật được sử dụng làm phân
bón và giảm lượng thải rắn hữu cơ, hạn chế được sự ô
nhiễm nguồn nước. Việc ủ phân cục bộ, tách nguồn hợp
lư và đốt giấy loại có thể giảm một khối lượng chất
thải rắn từ các hộ gia đ́nh hàng năm khoảng từ
250kg/người xuống 100kg/người, hoặc thậm chí thấp
hơn,...
Làng sinh thái là một mô h́nh minh hoạ cho hướng
phát triển cần phải có trong cả các nước phát triển
cũng như đang phát triển để chuyển đổi được các xu
hướng có hại.
Sự
di cư được coi là đặc trưng của loài người. Từ một
nguồn gốc lúc đầu là ở Châu Phi, các nhóm người đă
toả đi chiếm cứ tất cả các vùng đất của hành tinh
này. Sự di cư thường kéo theo sự phổ biến các tư
tưởng văn hoá, tập quán kỹ thuật từ vùng này sang
vùng khác. Sự truyền bá canh tác nông nghiệp từ nhóm
người mới đến tới nhóm người bản địa cho phép tăng
nhanh sản lượng lương thực.
Nguyên nhân di cư của các nhóm lớn dân số thường là
do thừa dân số, sức ép dân số quá lớn, thiếu tài
nguyên cơ bản. Ví dụ: sự di cư của người Châu Âu đến
châu Mỹ, Úc, New Zeland. Sự sai khác giữa các dân
tộc về mức độ thuận lợi, về công nghệ và kinh tế
cũng dẫn tới di cư, đồng thời dẫn đến việc dân tộc
có nền công nghệ cao đến xâm lược dân tộc có công
nghệ thấp, hay dân tộc kém phát triển bị thu hút di
cư đến các xă hội phát triển. Ví dụ luồng di cư của
người Ả Rập, Đông nam Á, Châu Phi... sang các nước
Tây Âu và Hoa Kỳ.
Hàng năm, Hoa Kỳ cho phép nhập cư vài chục vạn người
từ các nước khác, không kể tới số lượng nhập cư bất
hợp pháp gấp 2 lần. Sự di cư không gây nên sự gia
tăng dân số chung của thế giới, nhưng nó ảnh hưởng
đến cấu trúc dân số của các nước liên quan và đến
mật độ dân số ở các khu vực.
Một trong các khuynh hướng định cư lâu đời của loài
người là đô thị hoá. Quá tŕnh đô thị hoá ra đời vào
lúc nền canh tác nông nghiệp đă ở tŕnh độ khá cao
như đă có thuỷ lợi, thành lập kho tàng lưu trữ và
phân bố lương thực... tức là vào khoảng 2.000 năm
trước công nguyên. Các khu vực đô thị lúc đầu thường
mọc lên ở dọc bờ sông thuận tiện giao thông, nguồn
nước. Sự h́nh thành các đô thị gia tăng mạnh mẽ nhờ
các tiến bộ về công nghiệp của thế kỷ trước và hiện
nay. Các đô thị là thị trường lao động rộng lớn của
dân cư có mức sống cao với điều kiện giao thông và
dịch vụ thuận lợi.
Sự
phát triển dân số đô thị quá nhanh ở các quốc gia,
nhất là đối với các nước chậm phát triển đă gây ra
vô vàn vấn đề kinh tế xă hội chính trị và môi trường
như cung cấp nhà ở, cung cấp nước, vệ sinh môi
trường, tạo công ăn việc làm, giải quyết giao thông
đô thị v.v... Nguyên nhân dẫn tới sự gia tăng dân số
đô thị rất đa dạng gồm sự gia tăng tự nhiên của cư
dân đô thị, sự di cư hợp pháp và bất hợp pháp từ các
vùng nông thôn, việc mở mang về kinh tế, về công
nghiệp, giáo dục trong các đô thị v.v...
Hiện nay, diện tích các thành phố trên thế giới
chiếm 0,3% diện tích trái đất và 40% dân số thế
giới. Theo số liệu dự báo của tiểu ban dân số Hội
đồng Xă hội và Kinh tế thế giới, th́ dân số đô thị
trên thế giới từ năm 1960 đến năm 2000 có thể tăng
gấp 3 lần đạt 3200 triệu hay 50% dân số thế giới.
Xu thế đô thị hoá trên toàn thế giới sẽ dẫn tới sự
h́nh thành các Siêu đô thị với dân số trung b́nh
trên 4 triệu người. Hiện nay, trên thế giới có 20
siêu độ thị với dân số trên 10 triệu người, trong đó
có 11 ở Châu Á, 7 ở Châu Mỹ và 2 ở Châu Phi. Khu vực
Châu Á- Thái B́nh Dương hiện nay đă có 18 thành phố
trên 4 triệu dân, con số này sẽ tăng lên 52 vào năm
2050.
Trong 500 thành phố và thị trấn ở Việt Nam hiện nay,
chỉ có 2 thành phố trên 1 triệu dân là Hà Nội
(khoảng 2,2 triệu kể cả ngoại thành) và Thành phố Hồ
Chí Minh (hơn 4 triệu kể cả ngoại thành). Trong ṿng
10-15 năm tới, nếu không quy hoạch đô thị hợp lư, cả
Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh sẽ trở thành các
siêu đô thị với tất cả những vấn đề môi trường phức
tạp về mật độ dân cư, nghèo đói và thiếu thốn cơ sở
hạ tầng.
"Tị
nạn môi trường là việc con người buộc phải rời khỏi
nơi cư trú truyền thống của ḿnh tạm thời hay vĩnh
viễn do những nguyên nhân môi trường gây nguy hiểm
cho cuộc sống của họ".
Hiện nay, trên thế giới cứ 225 người th́ có một
người phải tị nạn môi trường. Nguyên nhân của tị nạn
môi trường là sự tổ hợp của một số yếu tố sau:
Con người đă thuần hoá chừng 80 loài cây lương thực,
thực phẩm chủ yếu và trên 20 loài động vật. Về lương
thực, chủ yếu có ba loại ngũ cốc: lúa gạo, lúa ḿ,
ngô với quá nửa diện tích đất đai trồng trọt trên
hành tinh. Chỉ riêng lúa gạo và lúa ḿ cung cấp
chừng 40% năng lượng về thức ăn của loài người.
Lúa gạo
là cây lương thực quan trọng hơn cả do nó thích ứng
với nhiều điều kiện khí hậu và sinh thái rất khác
nhau: nhiệt đới, ôn đới, vùng cao, khô, vùng thấp có
nước. Diện tích trồng lúa trên thế giới khoảng 140
triệu ha, tập trung chủ yếu ở châu Á (90% diện
tích), năng suất trung b́nh 25 tạ/ha một vụ với sản
lượng tổng cộng khoảng 344 triệu tấn.
Lúa ḿ
đứng hàng thứ hai sau lúa gạo về cây lương thực chủ
yếu. Lúa ḿ thích nghi với khí hậu ôn đới, mùa đông
lạnh ẩm, năng suất b́nh quân khoảng 20 tạ/ha trên
diện tích 210 triệu ha và tổng sản lượng thế giới là
355 triệu tấn.
Ngôlà loại cốc đứng thứ ba, sản lượng ngô trên thế
giới khoảng 322 triệu tấn với 40% diện tích tập
trung ở Bắc và Trung Mỹ. Xét về giá trị dinh dưỡng
th́ lúa có năng lượng tổng số - 234 Kcal/100g và
protein - 4,4%, c̣n ở ngô là 327 Kcal/100g và 7,6%.
Tuy nhiên, lúa gạo có khá đầy đủ các loại axit amin
cần thiết, trong khi đó, ngô thiếu hẳn hai loại quan
trọng mà cơ thể không thể tổng hợp được là lizin và
priptophan.
Các thực phẩm chủ yếu như rau, quả, thịt, cá. Những
thứ này nhằm bổ sung các yếu tố dinh dưỡng cần thiết
cho cơ thể mà ở cây cốc không có đủ. Về rau củ có
khoai tây, khoai lang, sắn... là những cây vừa làm
lương thực vừa làm thực phẩm. Khoai tây trồng ở miền
khí hậu ôn đới và nhiệt đới khoảng 23 triệu ha với
sản lượng chừng 0,35 tỷ tấn. So với khoai tây, khoai
lang có tỷ lệ gluxit cao hơn (26,0%), nhưng đạm lại
thấp hơn (1,40%). Khoai lang, sắn thích nghi với khí
hậu nóng. Tổng sản lượng thế giới khoảng 90 triệu
tấn củ/năm.
Về
rau hạt quan trọng nhất là đỗ tương (đậu nành) và
lạc. Theo sản lượng th́ chúng không thể so với các
loại cốc, nhưng thành phần protein cao hơn gấp nhiều
lần. Tổng sản lượng các loại đậu đỗ trên thế giới
khoảng 47 triệu tấn/năm.
Thịt, cá là loại thực phẩm đóng vai tṛ quan trọng
bảo đảm lượng protein cần thiết cho con người. Trừ
cá ra, 9 loài động vật là trâu, ḅ, lợn, dê, ngỗng,
gà, vịt, gà tây cung cấp phần lớn protein nuôi sống
con người. Ḅ và lợn cộng lại có khả năng thoả măn
90% tổng lượng thịt do gia súc đem lại. Về sữa th́
ḅ đảm bảo 90%, trâu khoảng 5%, c̣n lại là dê và
cừu.
Vấn đề lương thực đang ở trong t́nh trạng báo động
trên thế giới. Người ta thống kê, cứ 10 người th́ có
1 người bị đói. Số người đói ngày một tăng lên, từ
năm 1985 đă tăng thêm 40 triệu.
Ngoài số người đói kinh niên, thường xuyên có 500
triệu người thiếu ăn, hầu hết tập trung ở các nước
đang phát triển. Để có thể nuôi thêm 1 tỷ dân vào
năm 2000 và duy tŕ mức sống hiện nay, phải tăng
thêm 40% sản xuất lương thực, năng suất cây trồng
phải tăng 26%.
Thế nhưng, do việc phá rừng, hàng năm có chừng 25 -
30 tỷ ha đất bị xói ṃn. Sa mạc chiếm 36 diện tích
đất đai thế giới, phá huỷ 35 tỷ ha. Chỉ tính riêng
diện tích đất trồng trọt, hàng năm mất đi khoảng 5 -
7 triệu ha. Riêng châu Phi có 4/5 các nước bị nạn
đói và thiếu ăn đe doạ. Khối lượng xuất khẩu lương
thực, thực phẩm trên thế giới tới 200 tỷ đô la/năm.
Để
đảm bảo cuộc sống, mỗi người thường có nhu cầu riêng
về lương thực và thực phẩm xác định bằng khẩu phần
ăn hàng ngày, phụ thuộc vào lứa tuổi, hoạt động nghề
nghiệp, vào kích thước cơ thể và giới tính. Nh́n
chung, lao động công nghiệp nặng ở người châu Âu
trong khoảng 8 giờ đ̣i hỏi khoảng 2.400 Kcalo đối
với nam và 1.600 Kcalo đối với nữ.
Đối với người Việt Nam, nhu cầu có thấp hơn một ít:
2.100 kcal và 1.400 Kcal. Trong khẩu phần thức ăn
hàng ngày không chỉ tính riêng lượng calo, mà c̣n
phải tính đến thành phần những chất dinh dưỡng cần
thiết, đặc biệt là protein. Nhu cầu này thay đổi
cũng giống như calo, đồng thời cũng phải tính đến
chất lượng của nguồn protein. Nếu thiếu protein động
vật trong khẩu phần thức ăn th́ phải bù protein thực
vật. Nhưng hàm lượng protein trong thực vật thường
rất thấp. Sự thiếu protein trong khẩu phần thức ăn ở
các nước đang phát triển có khi c̣n nghiêm trọng hơn
cả thiếu calo, nhất là đối với phụ nữ có thai, phụ
nữ đang nuôi con và trẻ em. Trong cuốn sách "Cái đói
trong tương lai" cho biết, trong số 60 triệu người
chết hàng năm, th́ chết do đói ăn là 10 - 20 triệu,
số c̣n lại bị chết v́ thiếu dinh dưỡng và bệnh tật.
Ở Việt Nam, qua số liệu điều tra của Viện dinh dưỡng
trong 3 năm 1987, 1988, 1989 ở 23 tỉnh, thành phố
trên 1278 hộ cho thấy, bữa ăn của nhân dân ta c̣n
thiếu về số lượng, mới đạt 1950 Kcal/1người/1ngày,
so với yêu cầu là 2.300 Kcal c̣n thiếu 15%. Số gia
đ́nh dưới mức 1500 Kcal được liệt vào loại đói chiếm
17%, từ 1500 - 1800 Kcal vào loại thiếu lên đến 23%,
cộng cả hai loại thiếu trên đến 40%, số người gầy ở
nữ chiếm 38%, ở nam giới chiếm 62% và khoảng 40% trẻ
em suy dinh dưỡng. Tỷ lệ thiếu vitamin A - một chỉ
số tổng hợp v́ sự đói nghèo ở nước ta cao gấp 8 lần
mức quy định của Tổ chức Y tế thế giới.
Cách mạng Xanh có hai nội dung quan trọng hỗ trợ và
bổ sung cho nhau là tạo ra những giống mới và năng
suất cao chủ yếu là cây lương thực và sử dụng tổ hợp
các biện pháp kỹ thuật để phát huy khả năng của các
giống mới.
Cuộc Cách mạng Xanh được bắt đầu ở Mêhico cùng với
việc h́nh thành một tổ chức nghiên cứu quốc tế là:
"Trung tâm quốc tế cải thiện giống ngô và ḿ CIMMYT
và Viện nghiên cứu quốc tế về lúa ở Philippin - IRRI
và ở Ấn Độ - IARI".
Ấn Độ, từ một nước luôn có nạn đói kinh niên, không
sao vượt qua ngưỡng 20 triệu tấn lương thực, thành
một đất nước đủ ăn và c̣n dư để xuất khẩu với tổng
sản lượng kỷ lục là 60 triệu tấn/năm. Năm 1963, do
việc nhập nội một số chủng lúa ḿ mới của Mêhico và
xử lư chủng Sonora 64 bằng phóng xạ đă tạo ra
Sharbati Sonora, hàm lượng protein và chất lượng nói
chung tốt hơn cả chủng Mêhico tuyển chọn. Đây là một
chủng lúa ḿ lùn, thời gian sinh trưởng ngắn. Sản
lượng kỷ lục của lúa ḿ ở ấn Độ là 17 triệu tấn vào
những năm 1967 - 1968. Ngoài ra, những loại cốc
khác, nhờ tạo giống mới cũng đă đưa đến năng suất kỷ
lục. Bajra, một chủng kê có năng suất ổn định 2500
kg/ha, ngô cao sản năng suất 5000 - 7300 kg/ha. Lúa
miến (Sorga) năng suất 6000 - 7000 kg/ha với những
tính ưu việt như chín sớm hơn, chống chịu sâu bệnh
tốt hơn hẳn so với các chủng địa phương. Đặc biệt
lúa gạo, trồng trên diện tích rộng ở Ấn Độ - trên 35
triệu ha, nhưng năng suất trung b́nh chỉ đạt 1,1
tấn/ha. Với Cách mạng Xanh, giống IR8 đă tạo ra năng
suất 8 - 10 tấn/ha.
Một điều đáng lưu ư là Cách mạng Xanh ở Ấn Độ không
những đem đến cho người dân những chủng cây lương
thực có năng suất cao, mà c̣n cải thiện chất lượng
dinh dưỡng của chúng gấp nhiều lần. Ví dụ chủng
Sharbati hạt vừa to, vừa chắc, chứa 16% protein,
trong đó 3% là lizin. Do tiếp tục cải tiến và tuyển
lựa giống nên có nơi chủng này đă cho 21% protein.
Như vậy, Cách mạng Xanh đă tạo ra những thành tựu
lớn trong sản xuất lương thực của thế giới. Bên cạnh
đó, Cách mạng Xanh vẫn tiềm ẩn những hạn chế như yêu
cầu vốn lớn để đầu tư cho sản xuất, sử dụng nhiều
loại phân bón có thể làm tăng mức độ ô nhiễm khu vực
canh tác nông nghiệp, sử dụng đại trà giống mới làm
giảm dự trữ các nguồn gen về cây lương thực.
Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới, hơn 1,2
tỉ người. Dân số thế giới hiện nay đă hơn 6 tỉ
người. Con số đó khiến bất cứ ai quan tâm tới nhân
loại cũng phải giật ḿnh lo lắng, nhưng điều đáng sợ
hơn là tốc độ tăng dân số thế giới đang diễn ra rất
nhanh. Hiện nay trên thế giới b́nh quân mỗi giây có
3 trẻ em ra đời, mỗi ngày nhân loại sản sinh ra 30
vạn trẻ em. Với tốc độ sinh đẻ này th́ đến năm 2120
dân số thế giới sẽ vượt quá 15 tỉ người, lúc đó mọi
nơi trên thế giới đều lâm vào cảnh đất chật người
đông.
Dân số càng nhiều, sức ép về thực phẩm, lương thực,
năng lượng, môi trường, tài nguyên cũng ngày càng
lớn. Lấy một vài sản phẩm thường dùng của con người
làm ví dụ: Năm 1976 b́nh quân mỗi người dân trên thế
giới ăn hết 342 kg lương thực, năm 1977 giảm xuống
c̣n 318 kg; năm 1976 lượng thịt ḅ và thịt cừu tiêu
thụ b́nh quân mỗi người là 11,8 kg và 1,9 kg, năm
1991 giảm xuống c̣n 10,9 kg và 1,8 kg; năm 1970 thế
giới tiêu thụ cá nhiều nhất, b́nh quân mỗi người
19,5 kg, năm 1991 giảm xuống c̣n 16,5 kg.
Về
nguồn tài nguyên khoáng sản và thuỷ điện, với tŕnh
độ kỹ thuật hiện nay loài người đang đứng trước khó
khăn rất lớn, việc cung cấp năng lượng ngày càng
căng thẳng, điện sản xuất ra không đủ dùng, trong
khi đó chất thải công nghiệp ngày càng gây ô nhiễm
nghiêm trọng môi trường tự nhiên.
Muốn giảm bớt những sức ép đó, nhất thiết phải khống
chế tỉ lệ tăng dân số, đồng thời phối hợp với các
mặt khác. Hiện nay, trước t́nh h́nh dân số thế giới
đang tăng mạnh, đă có người đặt câu hỏi: "Trái đất
có thể nuôi được bao nhiêu người?". Nếu b́nh quân
một ngày mỗi người tiêu thụ số nhiệt lượng tương ứng
với 9200 jun th́ một năm sẽ tiêu thụ 35,5 x 105
jun. Mỗi năm thực vật trên Trái đất hấp thụ được từ
ánh Mặt trời 165 x 1015 gam chất hữu cơ,
tương ứng với 2761 x 1015 jun nhiệt
lượng. Số lượng nhiệt lượng đó có thể đủ dùng cho
800 tỉ người, nhưng đó là điều không thực tế v́ cho
đến nay loài người mới chỉ khai thác được 0,5% tổng
nhiệt lượng từ nguồn thực vật. Với khoa học kỹ thuật
tiên tiến, dù có lợi dụng được 1% tổng nhiệt lượng
từ nguồn thực vật th́ Trái đất cũng chỉ có thể nuôi
sống được 8 tỉ người. Thực tế liệu Trái đất có thể
nuôi được số người đông như vậy không, điều này rất
khó nói v́ tính toán trên lư thuyết chưa thể đúng
hoàn toàn với thực tế. Bởi vậy nhân loại chưa nên
vội vàng chạy ngay tới giới hạn nguy hiểm: 8 tỉ
người.
Trong xă hội cũ từng tồn tại quan niệm "Trời sinh
voi, trời sinh cỏ", "Thêm con, thêm của". Quan niệm
đó đă khiến gia đ́nh đẻ rất nhiều con, làm cho dân
số trái đất tăng mạnh, hiện nay đă đạt tới 6 tỉ
người. Người sinh nhưng đất không sinh thêm. Không
những thế đất màu mỡ để trồng cây nông nghiệp c̣n
giảm đi nhanh chóng. V́ con người không chỉ cần có
cái ăn. Xă hội phát triển, con người cần có đủ chỗ
để ở, nhu cầu về chỗ vui chơi giải trí, đường đi,
trường học, bệnh viện cũng tăng lên, do đó cần đến
đất cho xây dựng. Xă hội tiến lên con người cần có
nhiều hàng hoá với chất lượng cao hơn. Tiêu thụ trên
đầu người tăng mạnh, trong khi đó nhiều loại tài
nguyên khoáng sản không sinh mới được, nên cạn kiệt
dần. Dân số tăng, sản xuất phát triển làm tăng lượng
chất thải ra môi trường, làm suy thoái và ô nhiễm
môi trường nghiêm trọng.
Trong mỗi gia đ́nh, khả năng lao động là có hạn. Nếu
mỗi cặp vợ chồng chỉ có hai con và không đẻ quá sớm
hoặc quá muộn, th́ dưới mỗi mái nhà thường chỉ có
thể có đến ba thế hệ: ông bà, bố mẹ và hai con. Sản
phẩm lao động được chia sẻ cho 6 người. Cuộc sống sẽ
đầy đủ, sung túc, có phần dư dật để xây nhà, mua
tivi, tủ lạnh..., đi du lịch, nghỉ mát... Thời gian
bố mẹ dành cho việc học hành, vui chơi của con cái
cũng nhiều lên. Những người con như thế có đầy đủ
điều kiện để khoẻ mạnh, học tốt, lớn lên thành người
tài giỏi. Chỉ cần gia đ́nh có thêm một em bé là kinh
tế sẽ khó khăn hơn. Thời gian và những sự âu yếm, ân
cần của bố mẹ dành cho các con lớn giảm đi. Sự vất
vả thiếu thốn làm cho người lớn chóng già yếu hơn,
trẻ em chịu nhiều thiệt tḥi hơn, môi trường xung
quanh ít được quan tâm hơn. Nếu gia đ́nh lại có tới
5 - 7 người con, th́ mỗi đứa con không chỉ được
hưởng thụ ít hơn, mà c̣n phải lao động nhiều hơn may
ra mới đủ ăn đủ mặc, học hành.
Trong xă hội cũng như vậy. Người tăng nhưng đất
không tăng, khả năng sản xuất của trái đất là có
hạn, khả năng của môi trường chịu đựng những tác
động của con người cũng là có hạn. Nếu ngày hôm nay
chúng ta khai thác đến cạn kiệt tài nguyên thiên
nhiên và gây ô nhiễm môi trường, th́ không chỉ chúng
ta, mà cả các thế hệ con cháu chúng ta trong tương
lai sẽ không c̣n ǵ để sống và phát triển.
Theo các nhà khoa học th́ chiến tranh, đói kém, dịch
bệnh, suy thoái môi trường, xét cho cùng, đều bắt
nguồn từ tăng dân số. Thật vậy, dân số tăng dễ dẫn
đến khai thác tài nguyên cạn kiệt. Và khi tài nguyên
không đủ chi dùng, người ta bắt đầu t́m kiếm chúng ở
ngoài phạm vi sở hữu của ḿnh, dẫn tới tranh giành,
đánh nhau. Dân số đông, khó phát triển dân trí và
kinh tế, đời sống đói nghèo, lạc hậu, người ta rất
dễ v́ cái ăn mà phá huỷ môi trường, v́ một cây mà
chặt phá cả rừng. Nghèo đói thường đi liền với mất
vệ sinh, thiếu pḥng bệnh, nên dễ ốm đau. Dịch bệnh
phát ra mà không có tiền và biện pháp hữu hiệu để
ngăn chặn th́ sẽ lây lan nhanh chóng. Nghèo khó cũng
dẫn đến hạn chế trong việc lựa chọn các công nghệ
mang tính bảo vệ môi trường cao, làm cho môi trường
dễ bị ô nhiễm hơn.
Nếu cứ theo đà phát triển hiện nay, dân số thế giới
sẽ nhanh chóng đạt tới 10 tỷ và hơn nữa. Một trái
đất nuôi 6 tỷ người hiện nay c̣n khó khăn, môi
trường c̣n bị suy thoái, th́ làm sao nó có thể chịu
đựng được trên 10 tỷ người với mức tiêu thụ chắc
chắn là cao hơn hiện tại.
Amiăng có đặc điểm cách điện, cách nhiệt, cách âm,
chịu được nhiệt độ cao, chịu được axit, kiềm và lâu
hỏng. V́ vậy amiăng được sử dụng rộng răi với khối
lượng rất lớn. Ví dụ, các ống dẫn nước nóng thường
được bọc một lớp sợi bông amiăng, bên ngoài trát
ximăng để giữ nhiệt. Công nhân làm việc ở nơi có
nhiệt độ cao thường được trang bị tạp dề che ngực,
đùi, chân và găng tay làm bằng sợi bông amiăng để
chống bỏng.
Amiăng là những hợp chất muối axit silic được khai
thác ở mở quặng silic và gia công thành sợi bông
amiăng để dệt thành các vật liệu bảo hộ lao động kể
trên. Trong quá tŕnh sản xuất công nghiệp, cứ một
tấn sợi amiăng sẽ có 10 gam sợi bông thất thoát ra
môi trường. Các nhà khoa học đă chứng minh rằng, các
sợi bụi amiăng lơ lửng trong không khí, nếu hít phải
một lượng nhất định vào phổi sẽ gây ra các bệnh ung
thư phổi, khối u ở ṿng ngực, ung thư dạ dày, ruột,
v.v...
Năm 1955, các nhà khoa học Anh đă phân tích và thấy
rằng, tỉ lệ chết v́ ung thư phổi ở những công nhân
sản xuất nguyên liệu amiăng cách điện cao gấp 14 lần
so với những công nhân không tiếp xúc với amiăng. Từ
năm 1967 đến năm 1977, các nhà khoa học Anh đă theo
dơi sức khoẻ của 17800 công nhân Mỹ và Canada sản
xuất nguyên liệu sợi amiăng và thấy rằng, tỉ lệ mắc
bệnh ung thư phổi và u dưới da đều rất cao. Các công
nhân sản xuất amiăng lại thường mặc quần áo bảo hộ
về nhà khiến không khí trong nhà bị ô nhiễm bụi
amiăng và lẽ tất nhiên người nhà của họ cũng dễ bị
ung thư phổi. Rất nhiều tài liệu quốc tế khẳng định
một số thành phố lớn trên thế giới đă bị ô nhiễm bụi
amiăng. Ví dụ, hàm lượng bụi amiăng trong không khí
tại các thành phố lớn ở Mỹ là 0,1 - 100 mg/m3;
ở Anh 0 - 1 mg/m3; ở Pháp 0,2 - 1,5 mg/m3;
ở Hà Lan 0,1 - 100 mg/m3; ở Trung Quốc
0,04 - 1,06 mg/m 3.
Những người thường xuyên tiếp xúc với sợi amiăng dễ
bị viêm da do da luôn bị sợi amiăng kích thích. Bụi
amiăng xâm nhập vào cơ thể sẽ gây ra bệnh bụi phổi.
Khi mới mắc bệnh, bệnh nhân có triệu chứng thở gấp,
ho khan, khạc ra đờm và khó thở. Người bệnh nặng
thấy đau ngực, tim đập nhanh, sút cân, công năng của
phổi giảm sút rơ rệt.
Thời gian ủ bệnh ung thư do bụi amiăng gây ra rất
dài. Ví dụ, thời gian ủ bệnh ung thư phổi từ 15 - 20
năm nên rất khó phát hiện. Bởi vậy cần sớm pḥng
ngừa bệnh ung thư do bụi amiăng gây ra. Hiện nay các
nhà khoa học đang nghiên cứu vật liệu thay thế
amiăng, đồng thời hạn chế tối đa việc tiếp xúc với
amiăng. Ở các thành phố lớn, người ta cấm xây dựng
nhà máy sản xuất sợi amiăng đồng thời cố gắng khép
kín dây chuyền tự động hoá sản xuất amiăng. Ngoài ra
cần tăng cường bảo vệ lao động cho công nhân sản
xuất amiăng, nghiêm cấm vứt rác và các phế thải
amiăng ra nơi công cộng.
Vào những ngày có mưa phùn ẩm ướt, ta thường cảm
thấy sảng khoái và tỉnh táo hơn các ngày khác, nhất
là ở những vùng khô hanh ít mưa.
V́
sao mưa phùn lại khiến con người cảm thấy dễ chịu?
Bởi v́ trong không khí khô hanh có rất nhiều bụi
bặm, khiến con người hít thở sẽ cảm thấy ngột ngạt
khó chịu. Mưa phùn rơi kéo theo hầu như tất cả các
bụi bặm trong không khí xuống mặt đất. Các nhà khoa
học cho biết, một số chất bụi trong khí quyển có
tính phóng xạ. Khi mưa to những hạt bụi có tính
phóng xạ này không được rửa sạch, nhưng mưa phùn các
hạt bụi phóng xạ hạ thấp dần và mất đi tính phóng xạ
mà không làm ô nhiễm môi trường trên mặt đất.
Những hạt mưa phùn lất phất sẽ gột rửa sạch các hạt
bụi trong không trung, làm không khí trong sạch,
đồng thời làm tăng thêm các hạt ion âm trong không
khí. Chính v́ vậy khi trời mưa phùn con người cảm
thấy tâm hồn sảng khoái, sức khỏe như được tăng
thêm.
Bàn ghế, giường tủ bày trong căn pḥng, các đồ dùng
mới cũng toả ra mùi thơm nhẹ rất dễ chịu, nhưng v́
sao không nên ngửi mùi thơm của các đồ dùng đó?
Trong các hoá chất có một loại chất hữu cơ gọi là
chất thơm. Chất thơm này có mùi thơm nhẹ, dễ chịu và
tồn tại trong rất nhiều loại vật chất. Thành phần
chủ yếu của chất thơm này là benzen (C6H6). Khi có
một phần vạn chất thơm benzen trong không khí và con
người hít thở không khí này liên tục trong vài giờ
sẽ bị nhức đầu, mệt mỏi. Nếu con người sống và làm
việc lâu dài trong môi trường không khí đó th́ khả
năng tạo ra huyết cầu của tuỷ xương sẽ bị tổn hại,
dẫn đến bệnh thiếu máu, thậm chí dẫn đến bệnh máu
trắng.
Tài liệu điều tra của Bộ Lao động Mỹ cho biết, tỉ lệ
tử vong v́ bệnh máu trắng của những người tiếp xúc
với benzen cao gấp 5 lần người b́nh thường. Tổ chức
Y tế Thế giới đă xếp chất benzen vào danh sách những
hoá chất gây bệnh ung thư. Một số nước trên thế giới
quy định phụ nữ không được làm công việc tiếp xúc
với benzen, các công nhân tiếp xúc với benzen phải
thường xuyên thay đổi công việc, hạn chế tối đa thời
gian tiếp xúc với benzen.
Benzen và các hợp chất của benzen đều có đặc tính dễ
hoà tan nên được ứng dụng rất rộng răi. Trong thời
đại sản phẩm hoá học, benzen và các hợp chất của
benzen ngày càng được tận dụng triệt để. Vecni, sơn,
keo dán, chất tạo bọt,v.v...đều cần dùng tới benzen.
Bởi vậy các đồ dùng gia đ́nh, giấy dán tường đều toả
mùi benzen thơm nhẹ. Gặp phải trường hợp đó, chúng
ta cần t́m cách thông gió trong pḥng để giảm tối
thiểu hàm lượng benzen trong không khí. Sau một thời
gian benzen bay hơi hết, sức khỏe của chúng ta sẽ
không bị đe doạ nữa.
Thuốc bảo vệ thực vật là các loại hoá chất do con
người sản xuất ra để trừ sâu bệnh và cỏ dại có hại
cho cây trồng. Thuốc bảo vệ thực vật được phân thành
hai loại chính là thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ.
Các loại thuốc này có ưu điểm là diệt sâu bệnh, cỏ
dại nhanh, sử dùng lại đơn giản, nên được nông dân
ưa thích. Nhưng thuốc bảo vệ thực vật cũng có rất
nhiều tác hại, đó là:
Trong tự nhiên có rất nhiều loại sâu hại khác nhau,
có loại sâu ẩn núp dưới lá, có loại đục vào thân
cây, có loại lại chui vào đất, nên phải dùng nhiều
loại thuốc khác nhau để tiêu diệt chúng. Việc này
gây khó khăn cho người sử dụng, nhất là những người
nông dân có tŕnh độ văn hoá thấp. Nhiều người chỉ
thích mua thuốc rẻ để phun, không cần biết phạm vi
tác dụng của chúng ra sao. Có người hay phun quá
liều chỉ dẫn để cho "chắc ăn", làm tăng lượng thuốc
thừa tích đọng trong đất và nước.
Các loại thuốc trừ sâu thường có tính năng rộng,
nghĩa là có thể diệt được nhiều loại côn trùng. Khi
dùng thuốc diệt sâu hại một số côn trùng có ích cũng
bị diệt luôn, đồng thời ảnh hưởng tới các loại chim
ăn sâu, v́ chim ăn phải sâu đă trúng độc. Nói cách
khác, sau khi phun thuốc trừ sâu, số lượng thiên
địch của nhiều loại sâu cũng giảm. Điều đó có lợi
cho sự phát triển của sâu hại.
Các loại thuốc trừ sâu đều có tính độc cao. Trong
quá tŕnh dùng thuốc, một lượng thuốc nào đó có thể
đi vào trong thân cây, quả, hoặc dính bám chặt trên
lá, quả. Người và động vật ăn phải các loại nông sản
này có thể bị ngộ độc tức thời đến chết, hoặc nhiễm
độc nhẹ, từ từ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức
khoẻ. Do tŕnh độ hạn chế, một số nông dân không
tuân thủ đầy đủ các quy định về sử dụng, bảo quản
thuốc trừ sâu, có người cất thuốc vào chạn, vào tủ
quần áo, nên đă gây nên những trường hợp ngộ độc,
thậm chí chết thảm thương do ăn nhầm phải thuốc.
Một số loại thuốc trừ sâu có khả năng bay hơi mạnh
nên gây khó chịu, mệt mỏi, thậm chí choáng ngất cho
người trực tiếp phun thuốc sâu trên đồng ruộng, nhất
là trong trường hợp không có các biện pháp pḥng
tránh tốt.
Việc dùng thuốc trừ sâu liên tục sẽ sinh chứng nhờn
thuốc. V́ thế mỗi loại thuốc trừ sâu chỉ có tác dụng
mạnh một số năm đầu sử dụng. Để hạn chế bệnh nhờn
thuốc, tăng khả năng diệt trừ sâu người ta thường
tăng dần nồng độ thuốc, tăng số lần dùng thuốc. Tuy
nhiên biện pháp này không lâu dài do không thể tăng
măi nồng độ được. Mặt khác, nó làm ô nhiễm môi
trường mạnh hơn, do lượng tồn dư trong môi trường
nhiều lên.
Một số loại thuốc trừ sâu có tính năng hoá học ổn
định, khó phân huỷ, nên sẽ tích luỹ trong môi
trường. Sau nhiều lần sử dụng lượng tích luỹ này có
thể cao đến mức gây độc cho môi trường đất, nước,
không khí và con người. Do thuốc tồn đọng lâu không
phân huỷ, nên có thể theo nước và gió phát tán tới
các vùng khác, theo các loài sinh vật đi khắp mọi
nơi. Thuốc diệt cỏ được dùng ở mức ít hơn. Tuy nhiên
do có tính độc, chúng cũng gây nên những tác hại tới
môi trường giống như thuốc trừ sâu.
Nói tóm lại, thuốc trừ sâu, diệt cỏ không chỉ có tác
dụng tích cực bảo vệ mùa màng, mà c̣n gây nên nhiều
hệ quả môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng tới hệ
sinh thái và con người. Do vậy cần phải thận trọng
khi dùng thuốc và phải dùng đúng liều, đúng loại,
đúng lúc theo chỉ dẫn của cán bộ kỹ thuật.
DDT là loại thuốc trừ sâu đă được sử dụng trong
nhiều năm qua. Công thức hoá học của loại thuốc này
là C14H9Cl5’ tên
khoa học là dichloro-diphenyl-trichloroethane và gọi
tắt là DDT, do nhà sinh hoá học Thuỵ sĩ, Paul Muller
phát minh năm 1938. Thuốc DDT vừa ra đời đă tỏ rơ
tác dụng tuyệt vời trong việc tiêu diệt các loại côn
trùng có hại trong nông nghiệp. Hầu như tất cả các
loại sâu bọ có hại đều bị chết khi gặp phải DDT.
Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, người ra đă
dùng DDT để tiêu diệt rất hiệu nghiệm loại bọ chét,
giúp cho các binh sĩ chiến đấu ở Bắc Phi thoái khỏi
nạn dịch thương hàn do bọ chét lây truyền. Tiếp đó,
Tổ chức Y tế thế giới đă dùng DDT để diệt muỗi và
thu được thành công lớn trong việc ngăn chặn bệnh
sốt rét lây lan. Với những thành tích đó DDT đă trở
thành vua của các loại thuốc trừ sâu và năm 1948,
ông Muller - người phát minh ra DDT đă vinh dự nhận
giải thưởng Nobel về hoá học.
Nhưng 30 năm sau, DDT bị tuyên án "tử h́nh" (bị cấm
sản xuất và sử dụng). Khi DDT mới ra đời, đúng là nó
có sức mạnh vô địch. Nhưng chỉ mười mấy năm sau đă
có một số loại côn trùng có hại không sợ DDT nữa.
Chúng đă nhờn với DDT. Đến năm 1960 đă có 137 loại
côn trùng có hại nhờn thuốc DDT. Chưa hết, DDT đă
kém hiệu quả trong việc tiêu diệt côn trùng có hại,
lại c̣n giết chết khá nhiều chim chuyên ăn côn trùng
có hại. Do DDT có thành phần tương đối ổn định nên
khó bị phân giải trong môi trường tự nhiên và thâm
nhập vào cơ thể các loại chim theo hệ thống nước,
thực vật phù du, động vật phù du, tôm cá nhỏ... DDT
khi ở trong nước có nồng độ không đáng kể, nhưng khi
xâm nhập vào cơ thể chim, nồng độ của DDT sẽ tăng
lên hàng triệu lần khiến chim nếu không bị chết cũng
mất khả năng sinh sản. Đây là điều mà con người
không ngờ tới.
Cũng do được sử dụng khắp thế giới, DDT qua nước và
thực phẩm xâm nhập vào cơ thể con người, phá hủy nội
tiết tố giới tính của con người, gây ra các bệnh về
thần kinh, ảnh hưởng tới công năng của gan. Hậu quả
này xảy ra cũng ngoài dự kiến của con người.
Thuốc trừ sâu DDT c̣n có đặc điểm ngoại lệ, đó là kể
từ năm 1974 toàn thế giới hoàn toàn ngừng sản xuất
DDT, nhưng hậu quả của DDT trong môi trường c̣n lâu
mới hết. Thuốc DDT trong không khí phải sau 10 năm
mới giảm nồng độ xuống tỉ lệ ban đầu là 1/10; DDT
tan trong biển c̣n phải mất thời gian lâu hơn nữa
mới phân hủy hết. Theo dự đoán của các nhà khoa học,
phải đến sau năm 1993 DDT trong nước biển mới phân
hủy về cơ bản.
Trên trái đất có khoảng 1 triệu loài côn trùng,
trong đó có khoảng 5 vạn loại ăn thực vật và chỉ có
khoảng 1% (khoảng 500 loài côn trùng) chuyên ăn hoa
màu, cây ăn quả. Tuy số lượng chủng loại không nhiều
nhưng chúng rất phàm ăn và ăn rất khoẻ, gây tác hại
rất lớn đối với cây lương thực, rau xanh, cây ăn
quả. Theo thống kê, ở Trung Quốc mỗi năm sâu bọ gây
tổn thất 10% sản lượng lương thực, 20% sản lượng dầu
thực vật, 30% sản lượng rau xanh và 40% sản lượng
trái cây các loại.
Ngành hoá học và công nghiệp hoá chất không ngừng
phát triển và sản xuất ra hết loại thuốc sâu này đến
loại thuốc sâu kia để đối phó với côn trùng có hại.
Nhưng chỉ một thời gian sau các côn trùng có hại
không sợ thuốc nữa. Con người buộc phải tăng liều
lượng phun thuốc và thu được kết quả nhất định,
nhưng cũng chỉ kéo dài được một thời gian.
Con người lại t́m cách chế ra các loại thuốc sâu
tổng hợp mới. Tính đến thập kỷ 70, toàn thế giới đă
sử dụng hơn 12.000 loại thuốc trừ sâu để đối phó với
côn trùng có hại. Nhưng trong thực tế, con người
không những không tiêu diệt hết được côn trùng có
hại mà càng ngày chúng càng phát triển hơn. Đến nay,
loài người mới tỉnh ngộ rằng, nếu chỉ dựa vào thuốc
trừ sâu th́ không thể tiêu diệt hết được côn trùng
có hại. Bởi lẽ trong quá tŕnh sử dụng thuốc sâu
tràn lan, đối tượng bị hại nhiều nhất không phải là
côn trùng có hại mà là kẻ thù của chúng - đó là các
loài chim có ích. Thực tế cho thấy rất nhiều loại
chim có ích đă bị chết v́ thuốc trừ sâu, trứng của
nhiều loại chim bị nhiễm thuốc trừ sâu không thể nở
thanh chim non được. Trong khi đó các loại sâu bọ có
hại sinh sôi nảy nở rất nhanh và mau chóng nhờn
thuốc. Dù phun với liều lượng lớn, chúng vẫn không
chết mà vẫn sinh sôi nảy nở như thường. Thuốc sâu
càng phun nhiều càng làm ô nhiễm không khí, nước,
đất và cây trồng. Có thể nói hiện nay trên trái đất
không có nơi nào không có thuốc trừ sâu xâm nhập vào
môi trường sống.
Đương nhiên con người vẫn phải sử dụng thuốc trừ sâu
trong phạm vi cho phép, nhưng không thể chỉ dựa vào
thuốc trừ sâu để tiêu diệt côn trùng có hại. Ngày
nay, người ta áp dụng các biện pháp tổng hợp đối phó
với côn trùng có hại, trong đó có biện pháp dùng côn
trùng diệt côn trùng, dùng vi trùng diệt côn trùng
và đặc biệt chú ư bảo vệ các loại chim chuyên ăn côn
trùng có hại. Ngoài ra người ta c̣n gây, nhân giống
và nhập khẩu các loại côn trùng có ích để tiêu diệt
côn trùng có hại. Chỉ có như vậy mới có thể ngăn
chặn đuợc ô nhiễm môi trường và khống chế một cách
hiệu quả các loại côn trùng có hại.
Gần đây, ở Mỹ và Đức xuất hiện một số cửa hiệu
chuyên bán "lương thực sinh thái", "trái cây sinh
thái" và "rau xanh sinh thái". Chẳng cần phải giới
thiệu nhiều cũng đủ biết cửa hiệu đó rất đông khách,
bởi lẽ tâm lư người tiêu dùng đều thích mua loại
lương thực, trái cây và rau xanh vô hại.
Mấy chục năm gần đây, cùng với nạn ô nhiễm môi
trường ngày càng nghiêm trọng, người ta đă phát hiện
ra các loại chất gây ô nhiễm không khí, nước và đất.
Không ít chất ô nhiễm đă xâm nhập vào lương thực,
trái cây và các loại rau xanh. Đó là điều đe doạ rất
lớn đối với loài người và các thế hệ con cháu. Ví dụ
ăn lương thực có chứa nhiều cadimi sẽ tích tụ trong
cơ thể người khiến xương bị gịn dễ gẫy, nghiêm
trọng hơn c̣n gây bệnh đau xương; hoặc ăn rau xanh
có chưa muối nitrat quá mức cho phép sẽ gây ngộ độc,
trẻ em bị bệnh khó thở, thậm chí bị ung thư. Một số
loại thuốc trừ sâu bám dính rất lâu vào rau xanh,
trái cây khiến người ăn phải bị phản ứng ngộ độc ảnh
hưởng xấu tới sức khoẻ. Để tránh t́nh trạng này,
người ra đă sử dụng biện pháp tối ưu là trong quá
tŕnh trồng cây lương thực, cây ăn quả, rau xanh,...
tuyệt đối không dùng thuốc trừ sâu, các chất ô nhiễm
có hại cho cây trồng như cadimi, nitrat,... Những
sản phẩm nông nghiệp đó được gọi là "Nông sản không
ô nhiễm ", "Rau xanh vô hại", "Lương thực sinh
thái", "Trái cây sinh thái".
Việc sản xuất ra những sản phẩm nông nghiệp "hoàn
toàn vô hại" như trên đ̣i hỏi rất nhiều công sức.
Chỉ riêng việc trồng "rau xanh vô hại", các giai
đoạn gieo trồng, chăm sóc,...đ̣i hỏi không được bón
phân đạm hoặc bón rất ít phân đạm để tránh ô nhiễm
muối nitrat, mà thay vào đó phải bón phân vô cơ như
phân chuồng, phân bắc,... Muốn tránh ô nhiễm thuốc
sâu, phải chọn loại giống cây khoẻ chống được sâu
bệnh và chỉ được phun thuốc sâu sinh học, chứ không
phun thuốc sâu hoá học, đặc biệt là trước khi thu
hoạch rau tuyệt đối không được dùng thuốc trừ sâu.
Nếu vườn rau xuất hiện sâu bệnh phải dùng côn trùng
có ích diệt sâu hoặc con người phải trực tiếp bắt
sâu. Ngoài ra không tưới rau bằng nước thải của
thành phố v́ nước thải công nghiệp và nước thải sinh
hoạt của thành phố có chứa nhiều hoá chất ô nhiễm và
vi trùng gây bệnh. Đạt được những yêu cầu trên, rau
xanh sản xuất ra về cơ bản có thể gọi là "rau xanh
vô hại".
Bạn đă biết hút thuốc lá có hại cho sức khoẻ như thế
nào chưa?
Một điếu thuốc lá sản sinh ra 500 mililit khói,
trong khói thuốc lá chứa hơn 3000 chất hoá học trong
đó có 20 chất đă được xác nhận là gây bệnh ung thư.
Năm 1825, nhà hoá học Thụy sĩ Picoto lần đầu tiên
t́m ra chất nicotin trong khói thuốc lá. Chất này
làm cho người hút thuốc lá nghiện và cũng làm cho
người hút bị nhiễm độc măn tính chuyển sang nhiễm
độc cấp tính. Các nhà khoa học đă chứng minh được
rằng chất nicotin trong một điếu thuốc lá đủ làm
chết một con chuột, trong 20 điếu đủ làm chết một
con ḅ. Trong một cuộc thi hút thuốc lá ở Pháp, một
người dự thi đă hút liền 60 điếu thuốc lá và bị
nhiễm độc chết ngay tại chỗ.
Năm 1954, các nhà khoa học đă t́m ra chất benzen
trong khói thuốc lá và chứng minh được chất này gây
ra bệnh ung thư. Năm 1974, các nhà khoa học lại t́m
ra chất crizen và hợp chất của metyl với hàm lượng
khá cao trong khói thuốc lá, gấp 5 lần chất benzen.
Những chất này khiến động vật nhiễm phải đều mắc
bệnh ung thư với tỷ lệ 100%. Năm 1977 các nhà khoa
học lại t́m ra chất metyl hiđrazin gây bệnh ung thư,
mỗi điếu thuốc lá chứa 0,15 miligam hoá chất này.
Trong thuốc lá có chứa nhiều chất gây bệnh ung thư,
v́ vậy những người hút nhiều thuốc lá dễ bị ung thư
phổi, ung thư gan, v.v.
Nam nữ thanh niên hút thuốc lá sẽ ảnh hưởng xấu tới
thế hệ sau, nhất là phụ nữ hút thuốc lá trong thời
gian có thai dễ bị đẻ non, thai nhi nhẹ cân, thể
chất giảm sút dễ sinh bệnh tật. Khói thuốc lá không
chỉ ảnh hưởng xấu đến người hút mà c̣n làm ô nhiễm
môi trường xung quanh, khiến những người xung quanh
tuy không hút thuốc cũng thành "hút" khói thuốc lá
và dễ bị ung thư. V́ vậy, hiện nay nhiều nước trên
thế giới đă cấm hút thuốc lá ở những nơi công cộng.
Bỏ
thuốc lá đă trở thành một phong trào rộng răi trên
thế giới, dù là nước phát triển hay nước đang phát
triển cũng đều quan tâm tới vấn đề này. Để thúc đẩy
phong trào bỏ thuốc lá, thế giới đă chọn ngày 31
tháng 5 hàng năm làm "Ngày thế giới không hút thuốc
lá".
Khi hoạt động, máy thu h́nh luôn phát ra một lượng
lớn tia bức xạ có hại cho cơ thể con người. Các nhà
khoa học đă phân tích tia bức xạ phát ra từ máy thu
h́nh và kết luận rằng tuy năng lượng phát ra rất
nhỏ, nhưng nếu ngồi quá gần tivi trong một thời gian
dài sẽ bị ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ.
Xem tivi, nhất là tivi màu mà ngồi quá gần màn h́nh,
các h́nh ảnh màu sẽ làm người xem hoa mắt. Nếu xem
liên tục trong một thời gian dài, nhăn cầu sẽ bị
sóng quang kích thích, dẫn đến hiện tượng thị lực
tạm thời giảm sút, nh́n mọi vật không rơ. V́ vậy,
các nhà khoa học luôn cảnh báo mọi người, khi xem
tivi tốt nhất là ngồi cách xa màn h́nh 2 mét. Trẻ em
nhỏ tuổi nói chung không nên xem tivi; các em thiếu
nhi không nên xem quá nửa giờ; thanh thiếu nhiên
không nên xem liên tục 3-4 giờ liền; phụ nữ có thai
tốt nhất không nên xem tivi để bảo vệ sức khoẻ cho
thai nhi.
Tia bức xạ phát ra từ màn h́nh tivi làm cho da người
dễ bị nhiễm bụi, sắc tố của da lặn vào trong. Bởi
vậy xem tivi xong nhất thiết phải rửa sạch bụi bám
trên mặt.
Để
bảo vệ sức khoẻ, loại trừ và giảm bớt ảnh hưởng của
tia bức xạ do tivi phát ra đối với con người, các
nhà khoa học đă phát minh ra "màn bảo vệ" trong suốt
lắp trước màn h́nh. Xem tivi qua "màn bảo vệ" này,
ảnh hưởng của tia bức xạ sẽ bị hạn chế tối đa.
Ngày nay, tủ lạnh đă có mặt trong hầu hết các gia
đ́nh trên thế giới. Tủ lạnh đem lại nhiều tiện lợi
và niềm vui cho mọi gia đ́nh. Nhưng tủ lạnh đặt
trong nhà có ảnh hưởng thế nào đến sức khoẻ con
người?
Muốn giải đáp vấn đề này, trước tiên chúng ra cần
t́m hiểu sơ bộ nguyên lư của tủ lạnh. Phần đáy tủ
lạnh có lắp một máy nén, khi máy nén làm việc, khí
freon nóng lên dưới áp suất cao, khí freon bị nén
nóng được đưa vào bộ phận làm lạnh (tức là những ống
màu đen ở phía sau tủ lạnh). Do nhiệt độ lạnh bên
ngoài tác động, khí freon biến thành thể lỏng, chất
lỏng này chảy xuống qua một hệ thống nhiều dàn ống
nhỏ (giảm áp xuất và giảm nhiệt), sau đó chảy vào
hộp bốc hơi (nằm trong tủ lạnh). Ở đây chất lỏng
freon tiếp thu nhiệt lượng của không khí và thực
phẩm trong tủ lạnh và chuyển sang thể khí. Khí freon
lại được máy nén và tuần hoàn theo chu kỳ kể trên.
Ṿng tuần hoàn khí freon chính là quá tŕnh làm lạnh
của tủ lạnh. V́ vậy khi tủ lạnh làm việc, ta thường
nghe thấy động cơ máy nén phát ra âm thanh ŕ ŕ,
tiếng chất lỏng chảy róc rách, nếu sờ vào giàn ống
màu đen phía sau tủ lạnh sẽ thấy rất nóng. Để giàn
ống này nhanh toả nhiệt, ta cần để tủ lạnh cách xa
tường.
Tủ
lạnh hoạt động và làm lạnh được là nhờ quá tŕnh
tuần hoàn chất làm lạnh. Trên thế giới hiện có
khoảng gần 100 chất làm lạnh, nhưng thường được dùng
nhất là chất freon 12 (viết tắt là F12).
Freon là tên thương phẩm của hợp chất hydrocabon
halogen chứa flo và clo. Khí freon 12 không màu,
không mùi. Khi nồng độ chất khí này trong không khí
là 20%, con người sẽ không cảm nhận thấy, nếu tăng
lên 80%, con người sẽ ngạt thở và chết. Khí freon 12
không cháy, không nổ, tính chất hoá học ổn định, v́
vậy nó được chọn làm chất làm lạnh cho tủ lạnh.
Nhưng freon 12 có khả năng thẩm thấu rất mạnh, dễ
lọt ra ngoài qua những khe hở cực nhỏ. Do không màu,
không mùi nên khi freon 12 lọt ra ngoài không thể
phát hiện được. Khi gặp lửa có nhiệt độ trên 400oC,
freon 12 sẽ phân giải thành chất khí phosgen (COCl2).
Khí phosgen rất độc hại đối với cơ thể con người.
Tác hại lớn hơn của freon 12 là khi lọt ra khí
quyển, nó sẽ phá vỡ kết cấu tầng ozon trên khí
quyển, khiến tầng ozon bị loăng, thậm chí bị thủng,
các tia tử ngoại, tia vũ trụ sẽ chiếu thẳng xuống
Trái đất phá hoạt điều kiện môi trường sinh tồn của
loài người. V́ lẽ đó, các nhà khoa học đang nghiên
cứu sản xuất chất làm lạnh thay cho freon 12, hoặc
nghiên cứu chế tạo loại tủ lạnh không dùng freon 12
như tủ lạnh bán dẫn, tủ lạnh hấp thụ, tủ lạnh điện
tử, v.v. Để bảo về tầng ozon - mái nhà của Trái đất
khỏi bị phá hoại, chất làm lạnh của tủ lạnh sẽ được
thay thế, nhưng tủ lạnh vẫn măi là người bạn tuyệt
vời của chúng ta.
Cây cỏ, hoa lá là một thành phần không thể thiếu
được của tự nhiên. Cây cỏ, hấp thụ khí cácboníc, nhả
ra khí ôxy, là loại khí rất cần cho con người và
muôn loài hít thở.
Trong thành phố đông người, nhiều ôtô, xe máy,
thường đốt nhiều than dầu, thải ra nhiều khí
cacbonic và nhiều loại khí độc hại vào không khí. V́
thế trong thành phố cần có nhiều cây xanh để lượng
khí cacbonic và các khí độc hại khác không tăng lên
quá cao, nhờ đó không khí đỡ ngột ngạt, khó thở.
Cây cỏ, hoa lá tạo cho quang cảnh sự tươi mát, dễ
chịu, với nhiều màu sắc tự nhiên. Cây cỏ, hoa lá là
nơi sinh sống, là điểm thu hút nhiều loài động vật
tự nhiên như chim, bướm, côn trùng... Trong một
thành phố có quá nhiều nhà cửa, nhà máy, công tŕnh
bằng gạch, ngói, bê tông, sắt thép, những khoảng cây
cỏ, hoa lá xanh tươi, với chim bay, bướm lượn sẽ làm
dịu mắt mọi người, làm giảm bớt căng thẳng thần
kinh. Đồng thời những không gian như vậy cũng giúp
cho nhiều trẻ em, chỉ sống trong các nhà cao tầng ở
thành phố, có được khái niệm về môi trường tự nhiên,
có được những h́nh tượng sống động cho các từ mới
học, có được cảm hứng trong sáng tác văn học. Thật
vậy, nếu không có cây cỏ, th́ làm sao có tiếng ve
râm ran suốt trưa hè, làm sao có những cuộc chọi dế,
lấy đâu ra màu phượng vĩ chói chang và bốn mùa của
các em sẽ chẳng c̣n mấy thú vị nữa.
Cây cỏ hoa lá giữ cho đất được ẩm và không bị mặt
trời nung nóng. Trong khi đó những con đường nhựa,
những khối nhà bê tông bị mặt trời hun nóng, lại toả
nhiệt ra làm nóng không khí xung quanh, các xe có
động cơ, máy điều hoà nhiệt độ cũng làm không khí
đường phố nóng thêm. Do đó nếu có nhiều khoảng cây
xanh trên đường phố, xen kẽ với các khu xây dựng,
th́ không khí thành phố sẽ được điều hoà, bớt nóng
hơn. Các con đường có nhiều cây xanh, bóng mát, giúp
cho người qua đường tránh được cái nắng nóng mùa hè,
tạo cảm giác dễ chịu, thoải mái khi đi lại.
Tán cây như một tấm lưới, nó giữ lại một phần bụi
trên lá và cản không cho bụi bay đi xa. Trong thành
phố thường có nhiều bụi, do không khí nóng hơn, xe
cộ và người đi lại thường xuyên, các công tŕnh xây
dựng đào đất, để vật liệu khắp nơi, các nhà máy nhả
khói bụi liên tục... Những khoảng cây xanh trong
thành phố sẽ như những cái máy hút bụi, làm sạch môi
trường. Cây cỏ tiết ra một số chất kháng sinh thực
vật có khả năng tiêu diệt vi trùng gây bệnh. Ở đâu
có cây xanh ở đó không khí sạch sẽ hơn. Cây xanh
cũng góp một phần nhỏ cung cấp củi gỗ và hoa quả
tươi cho người dân đô thị.
Cây xanh có những tác dụng to lớn như vậy đối với
môi trường và con người, nên trong các thành phố,
nơi môi trường đang bị ô nhiễm, rất cần có nhiều cây
xanh, cỏ và hoa.
Các loại thực phẩm chúng ra ăn hàng ngày nói chung
đều sạch, không có chất ô nhiễm. Nhưng hầu như không
có thực phẩm nào tuỵệt đối tinh khiết mà ít nhiều
đều có mang theo chất ô nhiễm. Có chất ô nhiễm tự
sản sinh trong thực phẩm, có chất ô nhiễm do con
người đưa đến. Ví dụ như trong những hạt lạc để lâu
ngày bị mốc có chứa chất độc aflatoxin; trong dăm
bông, cá hun khói, thịt lạp (thịt sấy, thịt khô),...
đều có chứa muối nitrat hoặc muối nitric là những
chất độc hại. Nếu hàm lượng những chất đó trong thực
phẩm không nhiều hoặc chúng ta ăn ít th́ không có
vấn đề ǵ. Nhưng nếu hàm lượng vượt quá tỉ lệ cho
phép hoặc chúng ta ăn nhiều những thực phẩm đó sẽ
ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ, thậm chí đe hoạ tính
mạng. Lúc đó chúng ta sẽ nói rằng, những thực phẩm
đó đă bị ô nhiễm và không nên ăn.
Đối với lạc hoặc các thực phẩm để lâu bị mốc, tuyệt
đối không nên ăn v́ mốc lạc chứa aflatoxin gây bệnh
ung thư. Năm 1960, một số xí nghiệp nuôi gà của Anh
do dùng nhân lạc mốc của Brasil làm thức ăn nuôi gà,
đă làm 10 vạn con gà bị chết trong một thời gian
ngắn.
Một số loài thực phẩm bị ô nhiễm là do môi trường bị
ô nhiễm, sử dụng thuốc trừ sau sai quy định hoặc do
đóng gói, vận chuyển sai quy cách. Ví dụ chất thải
công nghiệp làm ô nhiễm nguồn nước, nếu dùng nguồn
nước bị ô nhiễm đó để nấu rượu, pha chế nước ngọt
th́ nhất định không thu được rượu ngon và nước ngọt
ngon.
Sử
dụng thuốc trừ sâu cũng khiến nhiều loại thực phẩm
bị ô nhiễm. Một số nước thường xảy ra hiện tượng
nhiễm độc thiếc do ăn đồ hộp. Đó là do nước trong
hộp hoa quả có chứa gốc axit nitric kết hợp với
thiếc trong sắt tây không xử lư tốt khi đóng hộp
khiến người ăn đồ hộp bị nôn mửa và ỉa chảy.
Ngoài ra c̣n một số chất ô nhiễm do con người đưa
vào thực phẩm. Ví dụ khi làm món thịt, lạp xường,...
người ra trộn diêm sinh (muối nitrat) vào thịt để
thực phẩm có màu đẹp và ăn ngon miệng, đồng thời
chống vi khuẩn xâm nhập để bảo quản được lâu ngày.
Nhưng nếu trộn nhiều muối nitrat sẽ gây ngộ độc cho
người ăn; hoặc những kẻ nhẫn tâm c̣n pha phân đạm
hoặc thuốc DDT vào rượu trắng để làm tăng nồng độ
rượu. Ngoài ra có một số thực phẩm bị ô nhiễm là do
sự cố khách quan gây ra.
Những sự kiện trên nhắc nhở loài người chớ tắc trách
trong việc sản xuất thực phẩm và cần hết sức thận
trọng khi sản xuất các loại thực phẩm có sử dụng hoá
chất độc hại.
Trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, đặc biệt là
giai đoạn từ 1965 - 1971, đế quốc Mỹ đă dùng nhiều
loại chất diệt cỏ, làm trụi lá cây nhằm phá hoại ta
về quân sự và kinh tế. Ba loại chất độc hoá học chủ
yếu đă được quân đội Mỹ dùng ở Việt Nam là: Chất độc
màu da cam, chất trắng dùng để phá huỷ rừng, chất
xanh dùng để phá hoại mùa màng.
Chất độc màu da cam có chứa dioxin, là một chất độc
cực mạnh, rất bền vững, khó phân huỷ. Do đó chúng
tồn tại rất lâu trong môi trường, tích luỹ sau nhiều
lần sử dụng, làm cho đất và nước bị ô nhiễm nặng,
cây rừng bị huỷ diệt.
Tổng cộng đế quốc Mỹ đă rải 72 triệu lít chất diệt
cỏ (bao gồm 44 triệu lít chất độc màu da cam, 20
triệu lít chất trắng, 8 triệu lít chất xanh) lên 1,7
triệu ha đất trồng và rừng ở miền Nam Việt Nam, ít
nhất có 12% diện tích rừng, 5% diện tích đất trồng
trọt bị rải chất độc màu da cam một hay nhiều lần.
Các chất diệt cỏ, làm trụi lá lần đầu tiên trong
lịch sử loài người, được dùng với quy mô lớn ở miền
Nam Việt Nam đă gây ra hậu quả nghiêm trọng cho môi
trường sinh thái và con người.
Hàng triệu ha rừng ở nội địa và rừng ngập mặn ở ven
bờ bị rải chất độc màu da cam nhiều lần. Ngay sau
khi bị rải chất diệt cỏ với nồng độ cao lần thứ
nhất, đă có 10 - 20% số cây thuộc tầng cao nhất
(chiếm 40 - 60% sinh khối của rừng) bị chết. Hậu quả
là khí hậu ở tầng thấp bị thay đổi, v́ độ ẩm giảm,
cường độ chiếu sáng tăng, nên các cây non dù có sống
sót cũng khó phát triển. Đến mùa khô, lửa rừng do
bom đạn lan đến diệt luôn cả cây con. Tiếp theo mùa
mưa đất bị xói ṃn, thoái hoá dần, chỉ có một số
loài thực vật ưa sáng như chíp, chè vè, lau, tre,
nứa, là những loài cây có bộ rễ phát triển mạnh,
thân ngầm khoẻ, chịu được khô cằn có thể mọc được.
Nhiều vùng rừng bị nhiễm chất độc quá nặng, cho đến
nay, vẫn chưa có cây ǵ mọc lại.
Cây rừng bị trụi lá và nước bị ô nhiễm cũng ảnh
hưởng đến động vật. Động vật chết v́ thiếu thức ăn,
v́ không có nơi trú ẩn, v́ uống nước bị nhiễm độc.
Những con sống sót phải di chuyển tới những nơi
khác, cho dù điều kiện sống ở những nơi mới đó không
hoàn toàn thuận lợi cho chúng. Có thể nói rằng hệ
sinh thái rừng mưa phong phú đă hoàn hoàn biến mất,
thay vào đó là hệ sinh thái nghèo kiệt xơ xác. Những
nơi rừng mọc lại, bụi lau, tre, nứa là nơi ẩn nấp
tốt cho họ hàng nhà chuột. Thiên địch của chuột là
cầy, cáo c̣n lại rất ít, hơn nữa sức sinh sản của
chúng không thể so sánh được với sức sinh sản của
chuột. Kết quả những nơi đó chuột chiếm ưu thế. Tóm
lại, chất diệt cỏ làm mất cân bằng sinh thái môi
trường.
Hệ
thống rừng ngập mặn ở miền Nam, đặc biệt là rừng Sát
(ở phía Đông Bắc thành phố Hồ Chí Minh) và rừng ở
huyện Năm Căn (Minh Hải) bị phá huỷ nặng nề. Nguồn
cung cấp gỗ cho người không c̣n, động vật không có
nơi sinh sống, vai tṛ to lớn của rừng ngập mặn
trong giữ đất, lấn biển bị giảm sút.
Chất diệt cỏ c̣n tác động rất xấu đến con người.
Nhân dân sống trong vùng bị rải chất diệt cỏ thiếu
ăn v́ mùa màng, cây cối bị phá huỷ. Nhiều dân
thường, bộ đội sống trong vùng bị rải chất độc hoá
học đă bị mắc các bệnh hiểm nghèo, đặc biệt là ung
thư. Nhiều phụ nữ bị sảy thai, đẻ non. Nguy hiểm hơn
cả là chất độc màu da cam đă để lại di chứng cho đời
sau, con cái của những người bị nhiễm chất độc hoá
học, mặc dù sinh ra sau chiến tranh, thậm chí ở rất
xa nơi có chiến sự, cũng mắc các bệnh hiểm nghèo như
câm, mù, điếc, tâm thần... hoặc có h́nh hài dị dạng.
Sự tồn tại của hàng loạt các trẻ em dị tật trong các
vùng bị nhiễm chất độc và trong các gia đ́nh cựu
chiến binh có bố hoặc mẹ từng công tác, chiến đấu
trong vùng bị nhiễm chất độc màu da cam, đang trở
thành nỗi đau và gánh nặng to lớn không chỉ riêng
cho các em và gia đ́nh, mà c̣n cho cả xă hội. Ngay
nay, Nhà nước, nhân dân Việt Nam cùng nhiều tổ chức
tiến bộ trên thế giới đă có những đồng cảm, quan tâm
giúp đỡ nhất định đối với các em bé bị dị tật bất
hạnh này. Tuy nhiên, có thể nói là đă quá muộn.
Nói tóm lại, hậu quả của việc sử dụng chất độc màu
da cam trong chiến tranh hoá học của Mỹ ở Việt Nam
là to lón, lâu dài, phức tạp, chưa được nghiên cứu
đầy đủ và chưa có cách nào khắc phục được hoàn toàn
nhanh chóng.
Rác là sản phẩm tất yếu của cuộc sống. Càng ngày con
người càng tạo ra nhiều rác hơn, với những thành
phần phức tạp hơn.
Rác thải sinh hoạt ở thể rắn thường gồm giấy, thuỷ
tinh, kim loại, nhựa, vải, thức ăn cành cây, xác
động vật,... Trong đó, các chất hữu cơ tự nhiên như
lá, cành cây, thức ăn thừa, xác chết động vật,... là
những thứ rất chóng phân huỷ, gây ô nhiễm môi
trường. Khi bị phân huỷ, chúng bốc mùi khó chịu,
phát sinh nhiều vi trùng gây bệnh thu hút công
trùng, ruồi, nhặng, chuột, bọ, tạo điều kiện cho
chúng phát triển gây ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước
và truyền bệnh sang người và gia súc. Tuy nhiên, nếu
sử dụng hợp lư, lượng chất hữu cơ này có thể trở
thành nguyên liệu rất tốt để sản xuất phân hữu cơ,
khí sinh học.
Rác thải là giấy, b́a, nhựa, thuỷ tinh, kim loại vụn
là những thứ có thể tái chế hoặc tái sử dụng được.
Tái chế tức là dùng nó làm nguyên liệu để sản xuất
ra sản phẩm mới. Tái sử dụng tức là thu hồi, rửa
sạch và sử dụng lại. Việc tái chế, tái sử dụng đem
lại nhiều lợi ích:
Các chất thải cháy được như chất hữu cơ, giấy, vải,
nhựa,... có thể dùng làm chất đốt, lấy nhiệt cung
cấp cho sưởi ấm, sấy hàng hoá. Tuy nhiên, phương
pháp này có thể sinh ra nhiều loại khí độc có hại
cho sức khoẻ. Những phần không thể tái chế, tái sử
dụng, làm phân bón được của rác thải có thể dùng làm
vật liệu san lấp trong xây dựng.
Như vậy, rác thải không hoàn toàn là thứ bỏ đi, vô
giá trị mà vấn đề là con người đối xử với chúng như
thế nào.
Rác là một vấn đề môi trường, nhất là ở các thành
phố lớn, cùng với mức sống của nhân dân ngày càng
được nâng cao, rác thải cũng ngày càng nhiều. Xử lư
rác thải đă trở thành vấn đề nóng bỏng của các thành
phố trên thế giới. Ở Nhật Bản, rác được phân thành
hai loại: rác cháy được và không cháy được để riêng
trong những túi có màu khác nhau. Hàng ngày, khoảng
9 giờ sáng họ đem các túi đựng rác đó ra đặt cạnh
cổng. Công ty vệ sinh thành phố sẽ cho ô tô đến từng
nhà đem các túi rác đó đi. Nếu gia đ́nh nào không
phân loại rác, để lẫn lộn vào một túi th́ ngay hôm
sau sẽ bị công ty vệ sinh gửi giấy báo đến phạt
tiền. Với các loại rác cồng kềnh như tivi, tủ lạnh,
máy giặt,... th́ quy định vào ngày 15 hàng tháng đem
đặt trước cổng đợi ô tô đến chở đi, không được tuỳ
tiện bỏ những thứ đó ở hè phố.
Sau khi thu gom rác vào nơi quy định, công ty vệ
sinh đưa loại rác cháy được vào ḷ đốt để tận dụng
nguồn năng lượng cho máy phát điện. Rác không cháy
được cho vào máy ép nhỏ rồi đem chôn sâu trong ḷng
đất. Cách xử lư rác thải như vậy vừa tận dụng được
rác vừa chống được ô nhiễm môi trường.
Phân loại và thu gom rác đă trở thành một việc làm
b́nh thường ở các nước phát triển, túi đựng rác là
do các gia đ́nh bỏ tiền mua ở cửa hàng. Ở những nước
này, dân chúng coi rác thải sinh hoạt không phải đồ
bỏ đi mà cố gắng tận dụng những thứ c̣n có ích như
giấy cũ, túi nilon, mảnh thủy tinh, săm lốp cũ, thậm
chí cả những đồ điện hỏng nhằm đem lại lợi ích cho
nhà nước, đồng thời làm trong sạch môi trường sống
của họ.
"Tiếp
nhận, chứa đựng các chất phế thải do con người tạo
ra trong các hoạt động là một chức năng quan trọng
của môi trường".
Phế thải do con người tạo ra trong quá tŕnh sản
xuất và tiêu dùng được đưa trở lại môi trường. Tại
đây, hoạt động của vi sinh vật và các thành phần môi
trường sẽ chuyển phế thải trở thành các dạng ban đầu
trong một chu tŕnh sinh địa hoá phức tạp. Khả năng
tiếp nhận và phân huỷ chất thải của môi trường là có
giới hạn. Khi lượng phế thải vượt quá giới hạn tiếp
nhận và phân huỷ chất thải, th́ chất lượng môi
trường sẽ bị suy giảm, môi trường có thể bị ô nhiễm.
Trái đất trở thành nơi sinh sống của con người và
các sinh vật nhờ một số điều kiện môi trường đặc
biệt: nhiệt độ không khí không quá cao, nồng độ ôxy
và các khí khác tương đối ổn định, cân bằng nước ở
các đại dương và trong đất liền. Tất cả các điều
kiện đó cho đến nay chưa t́m thấy trên một hành tinh
nào khác trong và ngoài hệ mặt trời. Những điều đó
xẩy ra trên trái đất nhờ hoạt động của hệ thống các
thành phần của môi trường trái đất như khí quyển,
thuỷ quyển, sinh quyển và thạch quyển.
Rác có thể được chuyển trực tiếp từ nơi chứa tạm
thời đến điểm xử lư nếu điều kiện về giao thông cho
phép (khoảng cách đến băi rác gần). Khi nơi xử lư
cách xa khu đô thị th́ có thể thành lập các điểm
trung chuyển gom rác trong thời gian ngắn nhất về
đây, sau đó dùng các phương tiện có công suất lớn
chuyển rác đến nơi xử lư. Những phương pháp xử lư
chính là tái chế, đốt, chôn lấp, làm phân rác. Tuỳ
điều kiện cụ thể và thành phần rác mà người ta lựa
chọn phương pháp phù hợp từ các phương pháp cơ bản
trên.
Trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, chất dẻo
tổng hợp có mặt ở khắp mọi nơi như túi xách tay, dép
nhựa, thảm trải sàn, băng dính, bao túi gói hàng,
dụng cụ văn pḥng, v.v... Nói cách khác, trong cuộc
sống của chúng ta, từ việc ăn, ở, đi lại đều gắn
liền với các dụng cụ, phương tiện từ chất dẻo tổng
hợp. Trong sản xuất công, nông nghiệp cũng không
tách rời chất dẻo tổng hợp như bao b́ trong sản xuất
công nghiệp, màng mỏng trong suốt bảo vệ cây
trồng,...
Sau khi sử dụng, chất dẻo trở thành phế liệu. Trong
các đống rác ở thành phố có đủ các loại túi gói lớn,
nhỏ, trên các cánh đồng có nhiều mảnh vụn túi nhựa,
nilon nhựa dùng để lợp vườn giữ nhiệt. Các sản phẩm
chất dẻo tổng hợp kể trên phần lớn được sản xuất từ
polyetylen hoặc polyvinyl. Bản thân hai chất này
không độc hại nhưng các chất phụ gia pha trộn trong
quá tŕnh sản xuất th́ rất độc hại. Đồ nhựa, túi gói
hàng ngày bằng chất dẻo tổng hợp sau khi thâm nhập
vào môi trường rất khó phân hủy, phải sau rất nhiều
năm mới có thể bị phân hủy, một số loại nếu có phân
hủy lại tan ra nhiều chất độc hại làm ô nhiễm đất
đai. Có nơi đă xảy ra hiện tượng trâu ḅ ăn phải các
mảnh túi chất dẻo và bị ngộ độc.
Làm thế nào để giải quyết vấn đề ô nhiễm chất dẻo
phế thải? Biện pháp được áp dụng đầu tiên là đốt
cháy. Nhưng khi cháy, các khí độc hại sản sinh ra
như clo, hydroclorit,... bay vào không khí làm ô
nhiễm môi trường khí quyển.
Do
đốt cháy phế liệu chất dẻo không phải là phương pháp
tối ưu, người ra đă chuyển sang biện pháp chôn sâu
chúng trong ḷng đất. Nhưng các phế liệu đó dù bị
chôn sâu nhưng nếu có những trận mưa lớn, động đất
th́ nó lại bị đưa lên mặt đất gây ô nhiễm môi
trường. Do vậy, việc chôn sâu các phế liệu từ chất
dẻo tổng hợp vẫn chưa phải là biện pháp thoả đáng.
Một số nước trên thế giới đă xử lư nguồn chất dẻo
phế thải bằng cách thu gom và tái sinh. Họ cho thu
nhặt phế thải chất dẻo rồi tái sinh thành sản phẩm
mới. Biện pháp này tận dụng được nguyên liệu, nhưng
vẫn không thể khắc phục được ô nhiễm trong quá tŕnh
tái sinh phế thải chất dẻo, đồng thời chất lượng của
sản phẩm tái sinh không tốt, chỉ sử dụng trong phạm
vi hẹp.
Biện pháp tốt nhất là nghiên cứu sản xuất loại chất
dẻo dễ phân hủy trong quá tŕnh phân hủy không làm ô
nhiễm môi trường. Nhưng biện pháp này rất khó thực
hiện. Gần đây các nhà khoa học Mỹ đă nghiên cứu và
sản xuất ra loại chất dẻo từ tinh bột và nước. Tinh
bột được lấy từ lúa ḿ, khoai tây, gạo,.. và đạt
được yêu cầu trong nguyên liệu không có bất kỳ chất
độc hại nào. Khi loại chất dẻo này chôn xuống đất,
các loại vi sinh vật rất thích ăn và phân giải nhanh
thành khí cacbonic và nước không gây ô nhiễm môi
trường, và dù gia súc có ăn phải các mảnh vụn chất
dẻo cũng vô hại. Thành quả này đang cổ vũ các nhà
sản xuất tạo ra các loại chất dẻo dễ phân giải nhằm
đạt yêu cầu căn bản là không gây ô nhiễm môi trường.
Chất thải độc hại là các chất thải có thể được sinh
ra do các hoạt chất công nghiệp, thương nghiệp và
nông nghiệp. Các chất thải độc hại có thể là các
chất rắn, chất lỏng, chất khí hoặc chất sệt. Trong
định nghĩa chất thải độc hại không nói đến các chất
thải rắn sinh hoạt, nhưng thật ra rất khó phân biệt
một cách toàn diện chất thải công nghiệp với chất
thải sinh hoạt. Chất thải độc hại không bao gồm chất
thải phóng xạ v́ loại chất thải này đă được hầu hết
các nước phân cách và tổ chức quản lư riêng.
Độ
độc hại của các chất thải độc hại rất khác nhau, có
chất gây nguy hiểm cho con người như các chất cháy
có điểm cháy thấp, các chất diệt côn trùng, các vật
liệu clo hoá phân huỷ chậm, có chất gây tác động nhỏ
hơn nhưng khối lượng của nó lại là vấn đề lớn như
các chất thải hầm mỏ, xỉ, thạch cao phốt phát cũ
hoặc các sệt hydroxyt khác. Những chất thải có chứa
những hoá chất không tương hợp có thể gây nổ, bắt
cháy. Tiếp xúc với axít hoặc kiềm mạnh gây bỏng da.
Da hấp thụ một số thuốc trừ sâu có thể gây ngộ độc
cấp tính. Những thùng, ḥm chứa chất thải hoá chất
nếu không được xử lư, để bừa băi vào nơi không được
bảo vệ tốt có thể gây các tai nạn ngộ độc nghiêm
trọng.
Có
thể xác định 3 nhóm chất thải độc hại chính:
Nhóm 1 bao
gồm các chất thải có hàm lượng độc tố cao, dễ thay
đổi, bền vững hoặc tích tụ sinh học. Ví dụ:
Các chất thải độc hại mới chỉ được quan tâm tới từ
10 đến 15 năm trở lại đây. Việc kiểm tra chất thải
độc hại thường chỉ được quan tâm sau khi xảy ra một
thảm hoạ hoặc sau một đe doạ thảm hoạ môi trường.
Sau sự kiện những người dân chết do ăn phải cá bị
nhiễm thuỷ ngân trong nước biển ở Minamata, Nhật là
nước đầu tiên đưa ra việc kiểm tra đầy đủ các chất
thải độc hại (1960).
Nước Anh, sau sự bất b́nh của công chúng khi phát
hiện những thùng rỗng có chứa muối xyanua trên đất
hoang mà trẻ em đă chơi trên đó th́ một Uỷ ban cao
cấp kiểm tra chất thải độc hại được thành lập và sau
đó đă được pháp luật thông qua.
Nước Mỹ, năm 1976, hệ thống kiểm tra chất thải độc
hại được thành lập do sự phản đối của công chúng v́
sự ô nhiễm gây nên bởi các đống rác không được kiểm
soát.
Việc kiểm tra chất thải độc hại cũng gây tốn kém,
nhưng kinh nghiệm ở nhiều nước phát triển cho thấy
việc dọn sạch "các lỗi lầm của quá khứ" c̣n tốn tiền
của và thời gian hơn nhiều, có khi gấp từ 10 đến100
lần.
Các chất thải độc hại có thể gây ô nhiễm môi trường
trực tiếp như bay hơi hoá chất trong khí quyển hoặc
có thể gây ô nhiễm gián tiếp qua vận chuyển của gió
hoặc bề mặt nước. Vấn đề quan trọng không phải chỉ
phụ thuộc vào nơi đổ thải và t́nh trạng đất ở bên
dưới.
Đất và nước bị ô nhiễm:
Sự
có mặt của vùng chưa băo hoà ở bên dưới mặt đất của
nơi đổ thải rất quan trọng. Đó là vùng cao hơn mặt
nước, ở nơi này nước thấm xuống dưới đến khi gặp mặt
nước chảy ngang. Nếu bên dưới chỗ rác thải là vùng
chưa băo hoà th́ hoạt động đất nước như trên sẽ là
một quá tŕnh lọc bởi các hoạt động hoá và hoá sinh.
Ô
nhiễm nước bề mặt:
Bề
mặt ngoài của nước ở gần chỗ chất thải có thể nhận
những chất thải độc hại từ bề mặt chảy. Hơn nữa,
ḍng chảy đất - nước của các hoá chất cũng đưa ô
nhiễm vào mặt nước. Trong điều kiện tiếp xúc không
khí sẽ thúc đẩy quá tŕnh phân huỷ hoá, hoá sinh các
hợp chất hữu cơ. Quá tŕnh bay hơi ở mặt nước cũng
dễ hơn ở đất.
Các đường ô nhiễm khác:
Các hợp chất hữu cơ có thể bay hơi trong không khí,
gió có thể đưa chất thải độc hại vào môi trường, rau
quả trồng gần nơi chất thải có thể hấp thụ những độc
tố của chất thải.
Hàng ngày, các thành phố, thị xă lớn nhỏ đều xả ra
ngoại thành một lượng lớn nước thải, bao gồm nước
thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt. Trong nguồn
nước thải đó có chứa nhiều nguyên tố dinh dưỡng như
nitơ, phốtpho,... rất cần cho cây trồng. Lâu nay một
số nước trên thế giới đă dùng nguồn nước thải từ
thành phố trực tiếp tưới cho đồng ruộng và đạt được
kết qủa rất khác nhau, có nơi sản lượng lương thực,
hoa màu tăng hẳn lên, nhưng có nơi bị thất thu
nghiêm trọng,...
Các nhà khoa học từ lâu đă cảnh báo không được dùng
nước thải của thành phố trực tiếp tưới ruộng. Bởi v́
trong nguồn nước thải đó có chứa rất nhiều nguyên tố
kim loại nặng có hại cho cơ thể con người như
cađimi, kẽm, ch́, thuỷ ngân,...và có các chất hữu cơ
độc hại khó phân hủy, các loại vi trùng gây bệnh,
v.v... Những chất độc hại trên đều trực tiếp gây ô
nhiễm cho cây lương thực, rau quả và sẽ để lại hậu
quả nghiêm trọng cho con người nếu ăn phải.
Tất nhiên không v́ vậy mà chúng ta bỏ phí nguồn nước
thải của thành phố. Người ra đă tận dụng nguồn nước
thải vô tận của thành phố bằng cách khử các nguyên
tố kim loại nặng, các chất hữu cơ độc hại và các
loại vi trùng gây bệnh, sau đó mới tưới cho đồng
ruộng. Nước thải thành phố đă được xử lư tưới cho
cây trồng không những không làm ô nhiễm lương thực,
rau quả mà c̣n làm tăng sản lượng các loại cây
trồng, đồng thời lọc sạch thêm nguồn nước thải, giảm
bớt ô nhiễm sông hồ. Đây là phương pháp sử dụng nước
thải khoa học nhất và đang được nhiều nước thực
hiện.
"Giáo
dục môi trường là một quá tŕnh thông qua các hoạt
động giáo dục chính quy và không chính quy nhằm giúp
con người có được sự hiểu biết, kỹ năng và giá trị
tạo điều kiện cho họ tham gia vào phát triển một xă
hội bền vững về sinh thái".
Mục đích của Giáo dục môi trường nhằm vận dụng những
kiến thức và kỹ năng vào ǵn giữ, bảo tồn, sử dụng
môi trường theo cách thức bền vững cho cả thế hệ
hiện tại và tương lai. Nó cũng bao hàm cả việc học
tập cách sử dụng những công nghệ mới nhằm tăng sản
lượng và tránh những thảm hoạ môi trường, xoá nghèo
đói, tận dụng các cơ hội và đưa ra những quyết định
khôn khéo trong sử dụng tài nguyên. Hơn nữa, nó bao
hàm cả việc đạt được những kỹ năng, có những động
lực và cam kết hành động, dù với tư cách cá nhân hay
tập thể, để giải quyết những vấn đề môi trường hiện
tại và pḥng ngừa những vấn đề mới nảy sinh.
Truyền thông được hiểu là một quá tŕnh trao đổi
thông tin, ư tưởng, t́nh cảm, suy nghĩ, thái độ giữa
hai hoặc một nhóm người với nhau.
"Truyền
thông môi trường là một quá tŕnh tương tác xă hội
hai chiều nhằm giúp cho những người có liên quan
hiểu được các yếu tố môi trường then chốt, mối quan
hệ phụ thuộc lẫn nhau của chúng và cách tác động vào
các vấn đề có liên quan một cách thích hợp để giải
quyết các vấn đề về môi trường".
Truyền thông môi trường không nhằm quá nhiều vào
việc phổ biến thông tin mà nhằm vào việc chia sẻ
nhận thức về một phương thức sống bền vững và nhằm
khả năng giải quyết các vấn đề môi trường cho các
nhóm người trong cộng đồng xă hội.
Để
khuyến khích những hoạt động của cộng đồng và các cá
nhân trong nỗ lực bảo vệ môi trường, năm 1987 Chương
tŕnh Môi trường của Liên Hợp Quốc đă đề xướng Bảng
vàng danh dự Giải thưởng Global 500.
Giải thưởng được trao hàng năm cho các tổ chức và cá
nhân có những thành tích đặc biệt trong việc cải
thiện và bảo vệ môi trường. Đó là sự công nhận cho
những thành công cả trên tuyến đầu của mặt trận bảo
vệ môi trường cũng như ở cấp độ những người dân
thường. Điều này đặc biệt có ư nghĩa tại cấp địa
phương và trong cộng đồng, v́ chính tại nơi đây, các
hoạt động bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng
môi trường là có hiệu quả và có ư nghĩa thiết thực
nhất. Sự tham gia của cộng đồng là điều kiện tiên
quyết để thúc đẩy chương tŕnh công dân môi trường
toàn cầu. Trong nhiều năm qua, Global 500 đă thu hút
được sự chú ư và hỗ trợ của đông đảo các giới và
quần chúng trên toàn thế giới. Điều này cũng cổ vũ
các tổ chức và cá nhân quan tâm đến môi trường tham
gia hành động.
Cho đến năm 1999, đă có 647 tổ chức và cá nhân được
nhận Giải thưởng Global 500.
Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc sáng lập Ngày Môi trường
Thế giới năm 1972, đánh dấu ngày khai mạc Hội nghị
Stockholm về Môi trường con người (5/6/1972), đây
cũng là ngày Chương tŕnh Môi trường của Liên Hợp
Quốc (UNEP) ra đời.
Ngày Môi trường thế giới được kỷ niệm vào ngày 5
tháng 6 hàng năm, là dịp quan trọng để tuyên truyền
nâng cao nhận thức toàn cầu về môi trường. Hàng năm,
Đại hội đồng Liên Hợp Quốc chọn một thành phố để tổ
chức lễ kỷ niệm quốc tế chính thức. Đây là sự kiện
trọng đại của nhân dân với các hoạt động phong phú
như diễu hành trên đường phố, đua xe đạp, thi viết
văn trong nhà trường phổ thông, trồng cây xanh và
các cuộc vận động làm vệ sinh môi trường.
Một điểm nổi bật của Ngày Môi trường Thế giới là tại
buổi lễ trọng thể, các nhà môi trường từ khắp mọi
nơi trên thế giới cùng đổ về nơi đăng cai để nhận
Giải thưởng Global 500 của Chương tŕnh Môi trường
Liên Hợp Quốc (UNEP).
"Làm sạch Thế giới" là một trong những chương tŕnh
quốc tế về môi trường gây được ấn tượng và có hiệu
quả nhất. Mỗi năm có tới hơn 40 triệu người từ 120
nước trên thế giới tham gia Chiến dịch với nỗ lực
tạo nên một sự chuyển biến thực sự đối với môi
trường Trái Đất.
Chiến dịch này do Ian Kiernan (người Ôxtrâylia) khởi
xướng bởi năm 1989, mở đầu bằng chương tŕnh Làm
sạch Ôxtrâylia.
Ngày nay, Chiến dịch Làm sạch Thế giới trở thành một
hoạt động mang tính cộng đồng quốc tế nhằm liên kết
mọi người trên khắp thế giới trong công tác làm sạch
môi trường. Chiến dịch được tổ chức vào tháng 9 hàng
năm và được điều hành bởi Uỷ ban Làm sạch Thế giới
phối hợp với Chương tŕnh Môi trường của Liên Hợp
Quốc (UNEP).
Nông nghiệp chiếm tới 1/3 mặt đất của trái đất và là
hoạt động trung tâm của nhiều người dân trên thế
giới. Những người nông dân là người quản lư nhiều
nguồn tài nguyên của Trái Đất. Tuy nhiên, nghề nông
có thể dễ bị tổn thương trước sự khai thác quá mức
và quản lư không đúng đắn ở các vùng đất dễ bị phá
vỡ và khó trồng trọt. Nông dân c̣n bị ảnh hưởng bởi
nợ nần quốc tế và giá hàng bị giảm. Họ c̣n bị hạn
chế về tài nguyên và phương tiện sản xuất.
Ngày nay, người ta càng quan tâm đến tính bền vững
của các hệ thống sản xuất nông nghiệp. Để xây dựng
và triển khai được các chiến lược nông nghiệp bền
vững, các Chính phủ phải:
Để
thúc đẩy nông dân quản lư tài nguyên thiên nhiên một
cách bền vững, các chính phủ cần tạo điều kiện cho
nhân dân chăm lo mảnh đất của ḿnh bằng việc thừa
nhận quyền sở hữu đất đai, cho vay tín dụng, cung
cấp công nghệ, được đào tạo về nông nghiệp. Các nhà
nghiên cứu cũng cần phải phát triển các kỹ thuật
canh tác thân thiện về mặt môi trường và các trường
cao học phải đưa bộ môn sinh thái vào chương tŕnh
đào tạo nông nghiệp.
Các phương tiện giao thông công cộng có thể giúp cải
thiện được cơ bản cơ cấu đô thị bằng cách giải phóng
được không gian lẽ ra được sử dụng để làm đường và
nơi đỗ xe, tạo điều kiện cho các việc khác như các
khu vực cho người đi bộ và các khoảng không thoáng
có sức hẫp dẫn về môi trường. Giao thông công cộng
cũng ít gây hại cho môi trường trên mỗi
ki-lô-mét/hành khách so với các xe tư nhân về yêu
cầu không gian, tiêu thụ nhiên liệu, ô nhiễm khí, ô
nhiễm tiếng ồn và mức độ an toàn. Sức kéo bằng điện
không gây ô nhiễm khi sử dụng và năng lượng cần
thiết có thể được sản xuất từ các nhà máy nhiệt
điện, nơi có thể kiểm soát ô nhiễm một cách chặt
chẽ.
Tuy nhiên, các phương tiện giao thông công cộng cần
khẳng định vai tṛ của ḿnh trong cách tiếp cận tổng
thể đối với môi trường và cải thiện đô thị. Người
vận hành phải có trách nhiệm trong việc cung cấp
dịch vụ thường xuyên, đáng tin cậy và an toàn để đáp
ứng được các yêu cầu của hành khách. Nếu phải cạnh
tranh, các phương tiện cần phải hiện đại, thái độ
phục vụ nhiệt t́nh, trách nhiệm và hệ thống tổng thể
phải thể hiện được chất lượng cao.
Một thành phố sinh thái cần phải có các điều kiện
sau:
Có mật độ cây
xanh cao. Có hệ thống rừng pḥng hộ môi trường
bao quanh thành phố hoặc ít nhất vào các hướng
gió chính.
Cố gắng tạo
và bảo tồn đa dạng sinh học để giữ cân bằng sinh
thái.
Đảm bảo đủ
nước cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất.
Nước thải chỉ
được thải vào hệ thống cống rănh chung hoặc sông
rạch khi đă được xử lư đảm bảo mức an toàn,
không bị ngập lụt trong thành phố.
Hệ thống giao
thông đảm bảo tiêu chuẩn đường và mật độ đường
trên dân số. Các phương tiện giao thông không
gây tiếng ồn và xả khí thải quá mức cho phép.
Bảo vệ môi
trường đất không bị ô nhiễm và thoái hoá. Sử
dụng quỹ đất thành phố một cách hợp lư để vừa có
đất dành cho khu dân cư, công viên, vừa có đất
cho rừng pḥng hộ môi trường.
Bảo đảm tiểu
khí hậu và khí hậu vùng hài hoà, ít biến động.
Đảm bảo mật
độ dân số hợp lư, phù hợp với năng lực tải của
đô thị đó.
Môi trường
không khí không vượt quá mức ô nhiễm cho phép.
Diện tích mặt
nước (ao, hồ,...) cân đối và đủ với diện tích
dân số thành phố để tạo cảnh quan môi trường và
khí hậu mát mẻ.
Có băi rác
hợp vệ sinh, công nghệ xử lư rác khoa học.
Có hệ thống
nhà vệ sinh công cộng đảm bảo vệ sinh môi
trường, mỹ quan, tiện lợi.
Xanh hoá nhà trường là một trong những nội dung quan
trọng của công tác giáo dục môi trường trong hệ
thống giáo dục Việt Nam. Việc làm này nếu đạt kết
quả tốt nó sẽ góp phần đáng kể trong công tác bảo vệ
môi trường chung của nhân loại.
Trong chương tŕnh V́ sự thay đổi (Chương tŕnh 21)
của Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất ở RiO năm 1992,
phần nói về trẻ em và thanh niên trong sự nghiệp
phát triển bền vững đă nêu:
"Trẻ em chiếm tới gần một nửa dân số ở nhiều nước
đang phát triển. Ở cả các nước phát triển và các
nước công nghiệp hoá, trẻ em rất dễ bị tổn thương do
ảnh hưởng của suy thoái môi trường.
Thanh niên chiếm tới một phần ba dân số thế giới và
họ cần phải có tiếng nói trong việc xác định tương
lai của ḿnh. Vai tṛ tích cực của họ trong việc bảo
vệ môi trường và tham gia trong các quyết định về
môi trường và phát triển là hết sức quan trọng đối
với sự thành công lâu dài của Chương tŕnh Hành động
21".
Thực vậy, chương tŕnh giáo dục môi trường quốc tế
bắt đầu từ năm 1975 và ngay sau đó khoảng 60 quốc
gia đă đưa giáo dục môi trường vào các kế hoạch
giảng dạy và chương tŕnh này đă bổ sung thêm sau
Hội nghị quốc tế về giáo dục và đào tạo ở Mátxcơva
năm 1987. Chương tŕnh giáo dục môi trường đă được
các cơ quan UNEP, UNICEF và UNESCO bảo trợ cho Thập
kỷ thế giới về giáo dục môi trường 1990 - 1999.
Xanh hoá nhà trường phải được hiểu đầy đủ, đó là
Xanh - Sạch - Đẹp trong nhà trường. Nó phong phú, đa
dạng nhưng rất cụ thể.
Công ước quốc tế là văn bản ghi rơ những việc cần
tuân theo và những điều bị cấm thi hành, liên quan
đến một lĩnh vực nào đó, do một nhóm nước thoả thuận
và cùng cam kết thực hiện, nhằm tạo ra tiếng nói
chung, sự thống nhất về hành động và sự hợp tác
trong các nước thành viên.
Công ước quốc tế có hiệu lực trọn vẹn với các nước
thành viên, nhưng cũng có tác động rất lớn đối với
các nước trong khu vực chưa tham gia công ước.
Hiện nay, có khoảng 300 công ước quốc tế về bảo vệ
môi trường. Việt Nam đă tham gia các Công ước quốc
tế về môi trường sau đây (ngày tham gia ở trong
ngoặc):
Công ước
Chicago về hàng không dân dụng quốc tế, 1944.
Thoả thuận về thiết lập Uỷ ban nghề các Ấn Độ
dương - Thái b́nh dương, 1948.
Hiệp ước về
Khoảng không ngoài vũ trụ, 1967.
Công ước về
các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc
tế, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim
nước (RAMSAR), 1971 (20/9/1988).
Nghị định thư
bổ sung công ước về các vùng ngập nước có tầm
quan trọng, đặc biệt như là nơi cư trú của các
loài chim nước, Paris, 1982.
Công ước liên
quan đến Bảo vệ các di sản văn hoá và tự nhiên
(19/10/1982).
Công ước về
cấm phát triển, sản xuất và tàng trữ vũ khí hoá
học, vi trùng và công việc tiêu huỷ chúng.
Công ước về
buôn bán quốc tế về các giống loài động thực vật
có nguy cơ bị đe dọa, 1973 (20/1/1994).
Công ước về
ngăn ngừa ô nhiễm do tàu biển MARPOL
(29/8/1991).
Công ước của
Liên Hợp Quốc về sự biến đổi môi trường
(26/8/1980).
Nghị định thư
chữ thập đỏ liên quan đến bảo vệ nạn nhân của
các cuộc xung đột vũ trang.
Công ước của
Liên Hợp Quốc về Luật biển (25/7/1994).
Cam kết quốc
tế về phổ biến và sử dụng thuốc diệt côn trùng,
FAO, 1985.
Công ước Viên
về bảo vệ tầng ô-zôn, 1985 (26/4/1994).
Công ước về
thông báo sớm sự cố hạt nhân, IAEA, 1985
(29/9/1987).
Công ước về
trợ giúp trong trường hợp sự cố hạt nhân hoặc
cấp cứu phóng xạ, 1986, IAEA (29/9/1987).
Nghị định thư
Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô-zôn,
1987 (26/1/1984).
Bản bổ sung
Luân đôn cho công ước, Luân đôn, 1990.
Bản bổ sung
Copenhagen, 1992.
Thoả thuận về mang lưới các trung tâm thuỷ sản ở
Châu Á - Thái b́nh dương, 1988 (2/2/1989).
Công ước
Basel về kiểm soát việc vận chuyển qua biên giới
chất thải độc hại và việc loại bỏ chúng
(13/5/1995).
Công ước
khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu,
1992 (16/11/1994).
Năm 1982:
Hội thảo khoa học về môi trường lần thứ nhất với chủ
đề "Các vấn đề môi trường của Việt Nam". Hội thảo đề
cập đến các vấn đề môi trường và tài nguyên đất,
khoáng sản, tài nguyên rừng, nước, không khí, dân
số.
Năm 1983:
Hội thảo quốc tế về bảo vệ môi trường và sử dụng hợp
lư tài nguyên thiên nhiên do Uỷ ban Khoa học và Kỹ
thuật Nhà nước* (nay là Bộ Khoa học, Công nghệ và
Môi trường) tổ chức.
Năm 1984:
Tổng kết công tác điều tra cơ bản về tài nguyên và
môi trường trên quy mô toàn quốc do Uỷ ban Khoa học
và Kỹ thuật Nhà nước chủ tŕ.
Năm 1985:
Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị
định 246/HĐBT về việc "Đẩy mạnh công tác điều tra cơ
bản, sử dụng hợp lư tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ
môi trường".
Năm 1987:
Hội thảo khoa học "Bảo vệ môi trường bằng pháp luật"
do Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước phối hợp với
Bộ Tư pháp tổ chức.
Năm 1988:
Thành lập Hội Địa lư Việt Nam, Hội Bảo vệ Thiên
nhiên và Môi trường Việt Nam.
Năm 1990:
Hội nghị quốc tế về "Môi trường và phát triển bền
vững" do Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước phối
hợp với Chương tŕnh Môi trường của Liên Hợp Quốc
(UNEP) tổ chức tại Hà Nội.
Năm 1991:
Chính phủ thông qua "Kế hoạch quốc gia về môi trường
và phát triển bền vững 1991-2000".
Năm 1992:
"Hội thảo quốc tế về nghèo khó và bảo vệ môi trường"
do Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường phối hợp
cùng UNEP tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 1993:
"Hội thảo Hoá học và Bảo vệ môi trường" do Hội Bảo
vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam và Hội Hoá học
Việt Nam phối hợp tổ chức.
Năm 1994:
Luật Bảo vệ Môi trường có hiệu lực.
Năm 1995:
Chính phủ thông qua Kế hoạch quốc gia về bảo tồn đa
dạng sinh học.
Năm 1996:
Chính phủ ban hành Nghị định 26/CP ngày 26/4/1996
Quy định Xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi
trường.
Năm 1997:
Quốc hội thông qua Nghị quyết về tiêu chuẩn các
chương tŕnh trọng điểm quốc gia.
Năm 1998:
Bộ Chính trị BCHTW Đảng ban hành Chỉ thị 36 CT/TW,
ngày 25/6/1998 về "Tăng cường công tác bảo vệ môi
trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước".
Hiến pháp 1992 của nước Cộng hoà xă hội chủ nghĩa
Việt Nam quy định: "Cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ
trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xă hội, mọi cá nhân
phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng
tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Nghiêm
cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và làm huỷ
hoại môi trường".
Căn cứ quy định này, Quốc hội khoá IX của nước Cộng
hoà xă hội chủ nghĩa Việt Nam tại kỳ họp thứ IV ngày
17/12/1993 đă thông qua Luật Bảo vệ Môi trường gồm 7
chương với 55 Điều. Đây là một trong những luật quan
trọng của nước ta quy định về sự thống nhất quản lư
bảo vệ môi trường trong phạm vi cả nước, đề ra những
biện pháp pḥng, chống, khắc phục suy thoái môi
trường, ô nhiễm môi trường. Những nội dung quản lư
Nhà nước về bảo vệ môi trường, lập quy hoạch bảo vệ
môi trường cũng như xây dựng tiềm lực cho hoạt động
dịch vụ môi trường ở Trung ương và địa phương.
Luật xác định nhiệm vụ bảo vệ môi trường là sự
nghiệp của toàn dân, các tổ chức, cá nhân phải chấp
hành nghiêm chỉnh pháp luật về bảo vệ môi trường,
nhằm bảo vệ sức khoẻ mọi người, đảm bảo quyền con
người được sống trong môi trường trong lành của đất
nước cũng như góp phần bảo vệ môi trường khu vực và
trên thế giới.
"Chính
sách môi trường là những chủ trương, biện pháp mang
tính chiến lược, thời đoạn, nhằm giải quyết một
nhiệm vụ bảo vệ môi trường cụ thể nào đó, trong một
giai đoạn nhất định".
Chính sách môi trường cụ thể hoá Luật Bảo vệ Môi
trường (trong nước) và các Công ước quốc tế về môi
trường. Mỗi cấp quản lư hành chính đều có những
chính sách môi trường riêng. Nó vừa cụ thể hoá luật
pháp và những chính sách của các cấp cao hơn, vừa
tính tới đặc thù địa phương. Sự đúng đắn và thành
công của chính sách cấp địa phương có vai tṛ quan
trọng trong đảm bảo sự thành công của chính sách cấp
trung ương.
Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, UBND phường, xă,
thị trấn có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:
1/
Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về
bảo vệ môi trường. Hỗ trợ cho các cơ quan Nhà nước
thực hiện các chương tŕnh, kế hoạch nghiên cứu, ứng
dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ trong lĩnh
vực bảo vệ môi trường địa phương.
2/
Tổ chức bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, cải thiện môi
trường, pḥng chống, khắc phục hậu quả thiên tai,
băo lụt, suy thoái môi trường, sự cố môi trường ở
địa phương.
3/
Tuyên truyền, phổ biến giáo dục kiến thức pháp luật
về bảo vệ môi trường. Định kỳ 6 tháng hoặc đột xuất
cung cấp thông tin về diễn biến môi trường tại địa
phương với uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp.
4/
Tham gia các đoàn thanh tra, kiểm tra việc chấp hành
pháp luật về bảo vệ môi trường của các cơ quan, tổ
chức, cá nhân ở địa phương.
Mọi tổ chức, cá nhân sản xuất, vận chuyển, tàng trữ,
sử dụng chất phóng xạ phải đăng kư tại cơ quan chức
năng của Nhà nước và phải được phép của cơ quan này.
Người và địa điểm chứa và sử dụng chất phóng xạ phải
được trang bị phương tiện bảo vệ đúng quy phạm an
toàn bức xạ của Nhà nước và phải thường xuyên đo đạc
mức độ phóng xạ, thông báo với cơ quan quản lư môi
trường của tỉnh và chịu sự thanh tra của cơ quan
này.
Nếu mức phóng xạ trong môi trường xung quanh vượt
quá giới hạn cho phép trong không khí hoặc trong
nước như quy định trong Tiêu chuẩn Việt Nam th́ phải
ngừng hoạt động, báo cáo cho cơ quan chức năng và xử
lư hậu quả. Việc quản lư tác nhân bức xạ phải thực
hiện theo Pháp lệnh ngày 25/6/1996 của Nhà nước về
an toàn và kiểm soát bức xạ.
Tổ
chức, cá nhân có thành tích trong hoạt động bảo vệ
môi trường, phát hiện sớm và báo cáo kịp thời các
dấu hiệu sự cố môi trường, khắc phục sự cố môi
trường, suy thoái môi trường, ngăn chặn các hành vi
huỷ hoại môi trường th́ được khen thưởng.
Những người tham gia bảo vệ môi trường, khắc phục sự
cố môi trường, ô nhiễm môi trường, suy thoái môi
trường và đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp
luật về bảo vệ môi trường mà bị thiệt hại tài sản,
sức khoẻ hoặc tính mạng th́ được bồi thường theo quy
định của pháp luật.
Người nào có hành vi phá hoại, gây tổn thương đến
môi trường, không tuân theo sự huy động của cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền khi có sự cố môi trường,
trong thực hiện đánh giá tác động môi trường, vi
phạm các quy định khác của pháp luật về bảo vệ môi
trường th́ tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu
quả xảy ra mà bị xử phạt hành chính, hoặc truy cứu
trách nhiệm h́nh sự.
Người nào lợi dụng chức quyền vi phạm quy định của
pháp luật về bảo vệ môi trường, bao che cho người vi
phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, thiếu tinh thần
trách nhiệm để xảy ra sự cố môi trường th́ tuỳ theo
tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra mà bị xử
lư kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm h́nh sự.
Theo Quy định Xử phạt hành chính về bảo vệ môi
trường được quy định tại Nghị định 26/CP, ngày
26/4/1996 của Chính phủ, các hành vi được coi là vi
phạm hành chính về bảo vệ môi trường gồm:
Bộ
Luật h́nh sự năm 1999 của Nước Cộng hoà xă hội chủ
nghĩa Việt Nam (BLHS) chương XVII, có 10 Điều về các
tội phạm về môi trường từ Điều 182 đến Điều 191,
gồm:
Người nào
thải vào không khí các loại khói, bụi, chất độc
hoặc các yếu tố độc hại khác; phát bức xạ, phóng
xạ quá tiêu chuẩn cho phép, đă bị xử phạt hành
chính mà cố t́nh không thực hiện các biện pháp
khắc phục theo quyết định của cơ quan có thẩm
quyền gây hậu quả nghiêm trọng, th́ bị phạt tiền
từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải
tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ
sáu tháng đến ba năm.
Phạm tội gây
hậu quả rất nghiêm trọng th́ bị phạt tù từ hai
năm đến bảy năm.
Phạm tội gây
hậu quả đặc biệt nghiêm trọng th́ bị phạt tù từ
năm năm đến mười năm.
Người phạm
tội có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến
năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm
hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một
năm đến năm năm.
Người nào
thải vào nguồn nước dầu mỡ, hoá chất độc hại,
chất phóng xạ quá tiêu chuẩn cho phép, các chất
thải, xác động vật, thực vật, vi khuẩn, siêu vi
khuẩn, kư sinh trùng độc hại và gây dịch bệnh
hoặc các yếu tố độc hại khác, đă bị xử phạt hành
chính mà cố t́nh không thực hiện các biện pháp
khắc phục theo quyết định của cơ quan có thẩm
quyền gây hậu quả nghiêm trọng, th́ bị phạt tiền
từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải
tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ
sáu tháng đến ba năm.
Phạm tội gây
hậu quả rất nghiêm trọng th́ bị phạt tù từ hai
năm đến bảy năm.
Phạm tội gây
hậu quả đặc biệt nghiêm trọng th́ bị phạt tù từ
năm năm đến mười năm.
Người phạm
tội c̣n có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng
đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ,
cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ
một năm đến năm năm.
Người nào
chôn vùi hoặc thải vào đất các chất độc hại quá
tiêu chuẩn cho phép, đă bị xử phạt hành chính mà
cố t́nh không thực hiện các biện pháp khắc phục
theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền gây
hậu quả nghiêm trọng, th́ bị phạt tiền từ mười
triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải tạo
không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu
tháng đến ba năm.
Phạm tội gây
hậu quả rất nghiêm trọng th́ bị phạt tù từ hai
năm đến bảy năm.
Phạm tội gây
hậu quả đặc biệt nghiêm trọng th́ bị phạt tù từ
năm năm đến mười năm.
Người phạm
tội c̣n có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng
đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ,
cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ
một năm đến năm năm.
Điều 185 (BLHS). Tội nhập khẩu công nghệ, máy móc,
thiết bị, phế thải hoặc các chất không đảm bảo tiêu
chuẩn bảo vệ môi trường
Người nào
nhập khẩu hoặc cho phép nhập khẩu công nghệ, máy
móc, thiết bị, các chế phẩm sinh học, chế phẩm
hoá học khác, các chất độc hại, chất phóng xạ
hoặc phế thải không đảm bảo tiêu chuẩn bảo vệ
môi trường, đă bị xử phạt hành chính về hành vi
này mà c̣n vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng, th́
bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm
triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm
hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
Phạm tội gây
hậu quả rất nghiêm trọng th́ bị phạt tù từ hai
năm đến bảy năm.
Phạm tội gây
hậu quả đặc biệt nghiêm trọng th́ bị phạt tù từ
năm năm đến mười năm.
Người phạm
tội c̣n có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng
đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ,
cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ
một năm đến năm năm.
Điều 186 (BLHS). Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm
cho người
Người nào có
một trong các hành vi sau đây làm lây lan dịch
bệnh nguy hiểm cho người, th́ bị phạt tù từ một
năm đến năm năm:
Đưa ra khỏi
vùng có dịch bệnh động vật, thực vật, sản phẩm
động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác có khả
năng truyền dịch bệnh nguy hiểm cho người;
Đưa vào hoặc
cho phép đưa vào Việt Nam động vật, thực vật
hoặc sản phẩm động vật, thực vật bị nhiễm bệnh
hoặc mang mầm bệnh nguy hiểm có khả năng truyền
cho người;
Hành vi khác
làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người.
Phạm tội gây
hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm
trọng, th́ bị phạt tù từ năm năm đến mười hai
năm.
Người phạm
tội c̣n có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng
đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ,
cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ
một năm đến năm năm.
Điều 187 (BLHS). Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm
cho động vật, thực vật
Người nào có
một trong các hành vi sau đây làm lây lan dịch
bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật gây hậu
quả nghiêm trọng hoặc đă bị xử phạt hành chính
về hành vi này mà c̣n vi phạm, th́ bị phạt tiền
từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải
tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ
sáu tháng đến ba năm:
Đưa vào hoặc
mang ra khỏi khu vực hạn chế lưu thông động vật,
thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật
phẩm khác bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh;
Đưa vào hoặc
cho phép đưa vào Việt Nam động vật, thực vật,
sản phẩm động vật, thực vật thuộc đối tượng kiểm
dịch mà không thực hiện các quy định của pháp
luật về kiểm dịch;
Hành vi khác
làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật,
thực vật.
Phạm tội gây
hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm
trọng, th́ bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
Người phạm
tội c̣n có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng
đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ,
cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ
một năm đến năm năm.
Người nào vi
phạm các quy định về bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản
thuộc một trong các trường hợp sau đây gây hậu
quả nghiêm trọng hoặc đă bị xử phạt hành chính
về hành vi này hoặc đă bị kết án v́ tội này,
chưa được xoá án tích mà c̣n vi phạm, th́ bị
phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu
đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc
phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:
Sử dụng chất
độc, chất nổ, các hoá chất khác, ḍng điện hoặc
các phương tiện, ngư cụ khác bị cấm để khai thác
thuỷ sản hoặc làm huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản;
Khai thác
thuỷ sản tại khu vực bị cấm, trong mùa sinh sản
của một số loài hoặc vào thời gian khác mà pháp
luật cấm;
Khai thác các
loài thuỷ sản quư hiếm bị cấm theo quy định của
Chính phủ;
Phá hoại các
nơi cư ngụ của các loài thuỷ sản quư hiếm được
bảo vệ theo quy định của Chính phủ;
đ) Vi
phạm các quy định khác về bảo vệ nguồn
lợi thuỷ sản.
Phạm tội gây
hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm
trọng, th́ bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng
đến hai trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ hai năm
đến năm năm.
Người phạm
tội c̣n có thể bị phạt tiền từ hai triệu đồng
đến hai mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ,
cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ
một năm đến năm năm.
Người nào
đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác huỷ
hoại rừng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đă bị xử
phạt hành chính về hành vi này mà c̣n vi phạm,
th́ bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm
triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm
hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.
Phạm tội
thuộc một trong các trường hợp sau đây, th́ bị
phạt tù từ ba năm đến mười năm:
Có tổ chức;
Lợi dụng chức
vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan,
tổ chức;
Huỷ hoại diện
tích rừng rất lớn;
Chặt phá các
loại thực vật quư hiếm thuộc danh mục quy định
của Chính phủ;
đ) Gây hậu
quả rất nghiêm trọng.
Phạm tội
thuộc một trong các trường hợp sau đây, th́ bị
xử phạt từ bảy năm đến mười lăm năm:
Huỷ hoại diện
tích rừng đặc biệt lớn;
Huỷ hoại rừng
pḥng hộ, rừng đặc dụng;
Gây hậu quả
đặc biệt nghiêm trọng.
Người phạm
tội có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến
năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm
hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một
năm đến năm năm.
Điều 190 (BLHS). Tội vi phạm các quy định về bảo vệ
động vật hoang dă quư hiếm
Người nào săn
bắt, giết, vận chuyển buôn bán trái phép động
vật hoang dă quư hiếm bị cấm theo quy định của
Chính phủ hoặc vận chuyển, buôn bán trái phép
sản phẩm của loại động vật đó, th́ bị phạt tiền
từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải
tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù
từ sáu tháng đến ba năm.
Phạm tội
thuộc một trong các trường hợp sau đây, th́ bị
phạt từ hai năm đến bảy năm:
Có tổ chức;
Lợi dụng chức
vụ, quyền hạn;
Sử dụng công
cụ hoặc phương tiện săn bắt bị cấm;
Săn bắt trong
khu vực bị cấm hoặc trong thời gian bị cấm;
đ) Gây hậu
quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm
trọng.
Người phạm
tội c̣n có thể bị phạt tiền từ hai triệu đồng
đến hai mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ,
cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ
một năm đến năm năm.
Điều 191. Tội vi phạm chế độ bảo vệ đặc biệt đối với
khu bảo tồn thiên nhiên
Người nào vi
phạm chế độ sử dụng, khai thác khu bảo tồn thiên
nhiên, vườn quốc gia, di tích thiên nhiên hoặc
các khu nhiên nhiên khác được Nhà nước bảo vệ
đặc biệt, đă bị xử phạt hành chính về hành vi
này mà c̣n vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng, th́
bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi
triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm
hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
Phạm tội gây
hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm
trọng, th́ bị phạt tù từ hai năm đến năm năm.
Người phạm
tội c̣n có thể bị phạt tiền từ hai triệu đồng
đến hai mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ,
cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ
một năm đến năm năm.