"Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố
vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao
quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản
xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên
nhiên." (Theo Điều 1, Luật Bảo vệ Môi trường của
Việt Nam).
Môi trường sống của con người theo chức năng được
chia thành các loại:
Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự
nhiên và xă hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất
của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không
khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xă
hội...
Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên
thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và
xă hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống
con người. Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà
trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường,
lớp học, sân chơi, pḥng thí nghiệm, vườn trường, tổ
chức xă hội như Đoàn, Đội với các điều lệ hay gia
đ́nh, họ tộc, làng xóm với những quy định không
thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công
nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với
luật pháp, nghị định, thông tư, quy định.
Tóm lại, môi trường là tất cả những ǵ có xung quanh
ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển.
Con người luôn cần một khoảng không gian dành cho
nhà ở, sản xuất lương thực và tái tạo môi trường.
Con người có thể gia tăng không gian sống cần thiết
cho ḿnh bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng
sử dụng của các loại không gian khác như khai hoang,
phá rừng, cải tạo các vùng đất và nước mới. Việc
khai thác quá mức không gian và các dạng tài nguyên
thiên nhiên có thể làm cho chất lượng không gian
sống mất đi khả năng tự phục hồi.
Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi
trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường,
đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các
hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho
môi trường, khai thác, sử dụng hợp lư và tiết kiệm
tài nguyên thiên nhiên.
Nhà nước bảo vệ lợi ích quốc gia về tài nguyên và
môi trường, thống nhất quản lư bảo vệ môi trường
trong cả nước, có chính sách đầu tư, bảo vệ môi
trường, có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc giáo
dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ, phổ
biến kiến thức khoa học và pháp luật về bảo vệ môi
trường. Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam ghi rơ
trong Điều 6: "Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của
toàn dân. Tổ chức, cá nhân phải có trách
nhiệm bảo vệ môi trường, thi hành pháp luật về bảo
vệ môi trường, có quyền và có trách nhiệm phát hiện,
tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi
trường".
"Khoa
học môi trường là ngành khoa học nghiên cứu mối quan
hệ và tương tác qua lại giữa con người và môi trường
xung quanh nhằm mục đích bảo vệ môi trường sống của
con người trên trái đất".
Môi trường là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành
khoa học như sinh học, địa học, hoá học, v.v... Tuy
nhiên, các ngành khoa học đó chỉ quan tâm đến một
phần hoặc một thành phần của môi trường theo nghĩa
hẹp mà không có một ngành khoa học nào đang có hiện
nay đủ điều kiện nghiên cứu và giải quyết mọi nhiệm
vụ của công tác bảo vệ môi trường là quản lư và bảo
vệ chất lượng các thành phần môi trường sống của con
người và sinh vật trên trái đất.
Như vậy, có thể xem khoa học môi trường là một ngành
khoa học độc lập, được xây dựng trên cơ sở tích hợp
các kiến thức của các ngành khoa học đă có cho một
đối tượng chung là môi trường sống bao quanh con
người với phương pháp và nội dung nghiên cứu cụ thể.
Phát triển kinh tế xă hội là quá tŕnh nâng cao điều
kiện sống về vật chất và tinh thần của con người qua
việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ
xă hội, nâng cao chất lượng văn hoá. Phát triển là
xu thế chung của từng cá nhân và cả loài người trong
quá tŕnh sống. Giữa môi trường và sự phát triển có
mối quan hệ hết sức chặt chẽ: môi trường là địa bàn
và đối tượng của sự phát triển, c̣n phát triển là
nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường.
Trong hệ thống kinh tế xă hội, hàng hoá được di
chuyển từ sản xuất, lưu thông, phân phối và tiêu
dùng cùng với ḍng luân chuyển của nguyên liệu, năng
lượng, sản phẩm, phế thải. Các thành phần đó luôn ở
trạng thái tương tác với các thành phần tự nhiên và
xă hội của hệ thống môi trường đang tồn tại trong
địa bàn đó. Khu vực giao nhau giữa hai hệ thống trên
là môi trường nhân tạo.
Tác động của hoạt động phát triển đến môi trường thể
hiện ở khía cạnh có lợi là cải tạo môi trường tự
nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho sự cải tạo
đó, nhưng có thể gây ra ô nhiễm môi trường tự nhiên
hoặc nhân tạo. Mặt khác, môi trường tự nhiên đồng
thời cũng tác động đến sự phát triển kinh tế xă hội
thông qua việc làm suy thoái nguồn tài nguyên đang
là đối tượng của hoạt động phát triển hoặc gây ra
thảm hoạ, thiên tai đối với các hoạt động kinh tế xă
hội trong khu vực.
Ở các quốc gia có tŕnh độ phát triển kinh tế khác
nhau có các xu hướng gây ô nhiễm môi trường khác
nhau. Ví dụ:
Môi trường là nơi con người khai thác nguồn vật liệu
và năng lượng cần thiết cho hoạt động sản xuất và
cuộc sống như đất, nước, không khí, khoáng sản và
các dạng năng lượng như gỗ, củi, nắng, gió,... Các
sản phẩm công, nông, lâm, ngư nghiệp và văn hoá, du
lịch của con người đều bắt nguồn từ các dạng vật
chất tồn tại trên trái đất và không gian bao quanh
trái đất.
Các nguồn năng lượng, vật liệu, thông tin sau mỗi
lần sử dụng được tuần hoàn quay trở lại dạng ban đầu
được gọi là tài nguyên tái tạo. Ví dụ như nước ngọt,
đất, sinh vật, v.v... là loại tài nguyên mà sau một
chu tŕnh sử dụng sẽ trở lại dạng ban đầu.
Trái lại, các nguồn năng lượng, vật liệu, thông tin
bị mất mát, biến đổi hoặc suy thoái không trở lại
dạng ban đầu th́ được gọi là tài nguyên không tái
tạo. Ví dụ như tài nguyên khoáng sản, gien di
truyền. Tài nguyên khoáng sản sau khi khai thác từ
mỏ, sẽ được chế biến thành các vật liệu của con
người, do đó sẽ cạn kiệt theo thời gian. Tài nguyên
gen di truyền của các loài sinh vật quư hiếm, có thể
mất đi cùng với sự khai thác quá mức và các thay đổi
về môi trường sống.
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, con người
ngày càng tăng cường khai thác các dạng tài nguyên
mới và gia tăng số lượng khai thác, tạo ra các dạng
sản phẩm mới có tác động mạnh mẽ tới chất lượng môi
trường sống.
Khủng hoảng môi trường là ǵ ?
Hiện nay, thế giới đang đứng trước 5 cuộc khủng
hoảng lớn là: dân số, lương thực, năng lượng, tài
nguyên và sinh thái. Năm cuộc khủng hoảng này đều
liên quan chặt chẽ với môi trường và làm cho chất
lượng cuộc sống của con người có nguy cơ suy giảm.
Nguyên nhân gây nên các cuộc khủng hoảng là do sự
bùng nổ dân số và các yếu tố phát sinh từ sự gia
tăng dân số. Do đó, xuất hiện một khái niệm mới là
khủng hoảng môi trường.
"Khủng
hoảng môi trường là các suy thoái về chất lượng môi
trường sống trên quy mô toàn cầu, đe doạ cuộc sống
của loài người trên trái đất".
Sau đây là những biểu hiện của khủng hoảng môi
trường:
"Công
nghệ môi trường là tổng hợp các biện pháp vật lư,
hoá học, sinh học nhằm ngăn ngừa và xử lư các chất
độc hại phát sinh từ quá tŕnh sản xuất và hoạt động
của con người. Công nghệ môi trường bao gồm các tri
thức dưới dạng nguyên lư, quy tŕnh và các thiết bị
kỹ thuật thực hiện nguyên lư và quy tŕnh đó".
Trong quá tŕnh phát triển kinh tế xă hội, con người
tác động vào tài nguyên, biến chúng thành các sản
phẩm cần thiết sử dụng trong hoạt động sống. Việc
này không tránh khỏi phải thải bỏ các chất độc hại
vào môi trường, làm cho môi trường ngày càng ô
nhiễm. Ở các các nước phát triển, vốn đầu tư cho
công nghệ xử lư chất thải chiếm từ 10 - 40% tổng vốn
đầu tư sản xuất. Việc đầu tư các công nghệ này tuy
cao nhưng vẫn nhỏ hơn kinh phí cần thiết khi cần
phục hồi môi trường đă bị ô nhiễm.
"Công
nghệ sạch là quy tŕnh công nghệ hoặc giải pháp kỹ
thuật không gây ô nhiễm môi trường, thải hoặc phát
ra ở mức thấp nhất chất gây ô nhiễm môi trường".
Có
thể áp dụng công nghệ sạch đối với các quy tŕnh sản
xuất trong bất kỳ ngành công nghiệp nào và bất kỳ
sản phẩm công nghiệp nào. Đối với các quá tŕnh sản
xuất, công nghệ sạch nhằm giảm thiểu các tác động
môi trường và an toàn của các sản phẩm trong suốt
chu tŕnh sống của sản phẩm, bảo toàn nguyên liệu,
nước, năng lượng, loại bỏ các nguyên liệu độc hại,
nguy hiểm, giảm độc tính của các khí thải, chất thải
ngay từ khâu đầu của quy tŕnh sản xuất.
"Sản
xuất sạch hơn là cải tiến liên tục quá tŕnh sản
xuất công nghiệp, sản phẩm và dịch vụ để giảm sử
dụng tài nguyên thiên nhiên, để pḥng ngừa tại nguồn
ô nhiễm không khí, nước và đất, và giảm phát sinh
chất thải tại nguồn, giảm thiểu rủi ro cho con người
và môi trường"
"Sự
cố môi trường là các tai biến hoặc rủi ro xảy ra
trong quá tŕnh hoạt động của con người hoặc biến
đổi bất thường của thiên nhiên, gây suy thoái môi
trường nghiêm trọng".
Sự
cố môi trường có thể xảy ra do:
Băo, lũ lụt,
hạn hán, nứt đất, động đất, trượt đất, sụt lở
đất, núi lửa phun, mưa axit, mưa đá, biến động
khí hậu và thiên tai khác;
Hoả hoạn,
cháy rừng, sự cố kỹ thuật gây nguy hại về môi
trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, công
tŕnh kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hoá, xă
hội, an ninh, quốc pḥng;
Sự cố trong
t́m kiếm, thăm đ̣, khai thác và vận chuyển
khoáng sản, dầu khí, sập hầm ḷ, phụt dầu, tràn
dầu, vỡ đường ống dẫn dầu, dẫn khí, đắm tàu, sự
cố tại cơ sở lọc hoá dầu và các cơ sở công
nghiệp khác;
Sự cố trong
ḷ phản ứng hạt nhân, nhà máy điện nguyên tử,
nhà máy sản xuất, tái chế nhiên liệu hạt nhân,
kho chứa chất phóng xạ.
"Ô
nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của
môi trường, vi phạm Tiêu chuẩn môi trường".
Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc
chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường
đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người,
đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất
lượng môi trường. Các tác nhân ô nhiễm bao gồm các
chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải),
rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật
lư, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ,
bức xạ.
Tuy nhiên, môi trường chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu
trong đó hàm lượng, nồng độ hoặc cường độ các tác
nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến
con người, sinh vật và vật liệu.
"Suy
thoái môi trường là sự làm thay đổi chất lượng và số
lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu
cho đời sống của con người và thiên nhiên".
Trong đó, thành phần môi trường được hiểu là các yếu
tố tạo thành môi trường: không khí, nước, đất, âm
thanh, ánh sáng, ḷng đất, núi, rừng, sông, hồ biển,
sinh vật, các hệ sinh thái, các khu dân cư, khu sản
xuất, khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên
nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và các
h́nh thái vật chất khác.
"Tiêu
chuẩn môi trường là những chuẩn mức, giới hạn cho
phép, được quy định dùng làm căn cứ để quản lư môi
trường".
V́
vậy, tiêu chuẩn môi trường có quan hệ mật thiết với
sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Hệ thống
tiêu chuẩn môi trường là một công tŕnh khoa học
liên ngành, nó phản ánh tŕnh độ khoa học, công
nghệ, tổ chức quản lư và tiềm lực kinh tế - xă hội
có tính đến dự báo phát triển. Cơ cấu của hệ thống
tiêu chuẩn môi trường bao gồm các nhóm chính sau:
Những quy
định chung.
Tiêu chuẩn
nước, bao gồm nước mặt nội địa, nước ngầm, nước
biển và ven biển, nước thải v.v...
Tiêu chuẩn
không khí, bao gồm khói bụi, khí thải (các chất
thải) v.v...
Tiêu chuẩn
liên quan đến bảo vệ đất canh tác, sử dụng phân
bón trong sản xuất nông nghiệp.
Tiêu chuẩn về
bảo vệ thực vật, sử dụng thuốc trừ sâu, diệt cỏ.
Tiêu chuẩn
liên quan đến bảo vệ các nguồn gen, động thực
vật, đa dạng sinh học.
Tiêu chuẩn
liên quan đến bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, các
di tích lịch sử, văn hoá.
Tiêu chuẩn
liên quan đến môi trường do các hoạt động khai
thác khoáng sản trong ḷng đất, ngoài biển
v.v...
Năm 1993, Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế (ISO) bắt đầu
xây dựng một bộ các tiêu chuẩn quốc tế về Quản lư
môi trường gọi là ISO 14000. Bộ tiêu chuẩn này gồm 3
nhóm chính:
"Đánh
giá tác động môi trường là quá tŕnh phân tích, đánh
giá, dự báo ảnh hưởng đến môi trường của các dự án
quy hoạch, phát triển kinh tế - xă hội, của các cơ
sở sản xuất, kinh doanh, công tŕnh kinh tế, khoa
học kỹ thuật, y tế, văn hoá, xă hội, an ninh, quốc
pḥng và các công tŕnh khác, đề xuất các giải pháp
thích hợp về bảo vệ môi trường".
Hoạt động phát triển kinh tế - xă hội ở đây có loại
mang tính kinh tế - xă hội của quốc gia, của một địa
phương lớn, hoặc một ngành kinh tế văn hóa quan
trọng (luật lệ, chính sách quốc gia, những chương
tŕnh quốc gia về phát triển kinh tế - xă hội, kế
hoạch quốc gia dài hạn), có loại mang tính kinh tế -
xă hội vi mô như đề án xây dựng công tŕnh xây dựng
cơ bản, quy hoạch phát triển, sơ đồ sử dụng một dạng
hoặc nhiều dạng tài nguyên thiên nhiên tại một địa
phương nhỏ. Tuy nhiên, một hoạt động có ư nghĩa vi
mô đối với cấp quốc gia, nhưng có thể có ư nghĩa vĩ
mô đối với xí nghiệp. Hoạt động vi mô nhưng được tổ
chức một cách phổ biến trên địa bàn rộng có khi lại
mang ư nghĩa vĩ mô.
Tác động đến môi trường có thể tốt hoặc xấu, có lợi
hoặc có hại nhưng việc đánh giá tác động môi trường
sẽ giúp những nhà ra quyết định chủ động lựa chọn
những phương án khả thi và tối ưu về kinh tế và kỹ
thuật trong bất cứ một kế hoạch phát triển kinh tế -
xă hội nào.
"Kinh
tế môi trường là công cụ kinh tế được sử dụng để
nghiên cứu môi trường và điều đó cũng có nghĩa là
trong tính toán kinh tế phải xét đến các vấn đề môi
trường".
Các vấn đề này nằm giữa kinh tế và các hệ tư nhiên
nên rất phức tạp, do đó có thể coi kinh tế môi
trường là một ngành phụ trung gian giữa các ngành
khoa học tự nhiên và khoa học xă hội. Những điểm cần
ghi nhớ khi xem xét kinh tế môi trường:
"An
ninh môi trường là trạng thái mà một hệ thống môi
trường có khả năng đảm bảo điều kiện sống an toàn
cho con người trong hệ thống đó".
Một hệ thống môi trường bị mất an ninh có thể do các
nguyên nhân tự nhiên (thiên tai) hoặc do các hoạt
động của con người (khai thác cạn kiệt tài nguyên
thiên nhiên, thải chất độc vào môi trường gây ô
nhiễm, suy thoái môi trường, suy giảm đa dạng sinh
học,...) hoặc phối hợp tác động của cả hai nguyên
nhân trên. Trạng thái an ninh của riêng phân hệ sinh
thái tự nhiên được gọi là an ninh sinh thái, do đó
an ninh sinh thái là một khía cạnh của an ninh môi
trường.
"Quan
trắc môi trường là việc theo dơi thường xuyên chất
lượng môi trường với các trọng tâm, trọng điểm hợp
lư nhằm phục vụ các hoạt động bảo vệ môi trường và
phát triển bền vững".
Trước khi thực hiện một dự án phát triển, người ta
thường phải chú ư đến sức ép môi trường. "Sức ép
môi trường là những khó khăn, trở ngại do môi trường
(tự nhiên, kinh tế, xă hội) tác động lên dự án phát
triển".
Sức ép môi trường là yếu tố nằm ngoài của dự án và
hoàn toàn không được mong đợi xảy ra khi triển khai
dự án. Có thể phân loại sức ép môi trường thành hai
loại như sau:
Sức ép môi
trường "nằm trong" khả năng khắc phục của
dự án. Ví dụ: Thiếu nước, thiếu mặt bằng xây
dựng, cơ chế hành chính của địa phương chưa phù
hợp, hạ tầng cơ sở chưa phát triển, ô nhiễm môi
trường điểm du lịch... Nếu tăng cường đầu tư và
hợp tác với địa phương sẽ giúp cho việc khắc
phục các sức ép này.
Sức ép môi
trường "nằm ngoài" khả năng khắc phục của
dự án. Ví dụ: Chế độ khí hậu thời tiết, tai biến
môi trường, điều kiện sinh thái độc hại, cơ cấu
điều hành của địa phương không hiệu quả... Với
loại sức ép này, tự thân khả năng của dự án
không thể khắc phục được, cần có một chương
tŕnh rộng lớn hơn hỗ trợ. Do đó, dự án cần phải
thích nghi, chịu đựng hoặc phải thay đổi.
Như vậy, có thể nhận thấy sự phân loại sức ép môi
trường phụ thuộc hoàn toàn vào năng lực, quy mô của
dự án. Một yếu tố môi trường có thể là sức ép môi
trường "nằm ngoài" khả năng khắc phục của dự án này
nhưng lại "nằm trong" trong khả năng khắc phục của
dự án khác có năng lực và quy mô lớn hơn. Phân loại
như vậy sẽ thuận lợi hơn trong việc đánh giá nhanh
tính khả thi của dự án và giúp cho việc t́m kiếm các
giải pháp hạn chế, khắc phục các sức ép môi trường
một cách hiệu quả nhất.
Con người sống trên Trái đất chủ yếu sử dụng không
khí, nước và thực phẩm để nuôi dưỡng cơ thể. Mỗi
người lớn một ngày hít vào 100 lít không khí và thở
ra lượng khí cacbonic cũng nhiều như vậy. Khí
cacbonic là khí thải, tụ lại nhiều một chỗ sẽ làm
vẩn đục không khí trong pḥng, gây khó chịu. Nếu
buổi tối đi ngủ đóng kín cửa pḥng, khí cacbonic sẽ
vẩn đục khắp pḥng. Bởi vậy buổi sáng ngủ dậy phải
mở cửa để không khí lưu thông, pḥng ở mới sạch.
Khi người ta ăn các thức ăc để bổ sung dinh dưỡng,
sẽ thải ra cặn bă. Chất cặn bă (phân và nước tiểu)
xuất hiện ở môi trường sinh hoạt nếu không được xử
lư tốt sẽ gây ô nhiễm môi trường, gây hại cho sức
khoẻ con người (như gây bệnh giun sán).
Trong quá tŕnh thay đổi tế bào trong cơ thể con
người thường toả ra nhiệt lượng và mùi vị. Mùi vị
của cơ thể mỗi người khác nhau, trong đó có một mùi
rất nặng kích thích hệ thần kinh khứu giác, đó là
mùi hôi nách. Đây cũng là một nguồn ô nhiễm của cơ
thể con người.
Trong sinh hoạt hàng ngày, cơ thể con người luôn
luôn toả nhiệt để điều tiết cân bằng nhiệt độ cơ
thể. Nhiệt lượng này toả ra môi trường xung quanh
nên chúng ta không thấy ảnh hưởng xấu của hiện tượng
này. Ví dụ trong một toa xe đóng kín cửa chật ních
người, nhiệt độ sẽ cao dần và những người bên trong
sẽ cảm thấy khó chịu, v́ nhiệt lượng toả ra từ cơ
thể người đă làm tăng nhiệt độ trong xe.
Cơ
thể chúng ta là một nguồn ô nhiễm. Nêu vấn đề này ra
có thể có một số người chưa nhận thức được. Nhưng
chúng ta sẽ phát hiện ra điều này khi tập trung một
số đông người trong một môi trường nhỏ hẹp. Bởi vậy,
chúng ta không những cần pḥng ngừa ô nhiễm công
nghiệp mà c̣n cần pḥng ngừa cơ thể gây ô nhiễm, ảnh
hưởng trực tiếp tới sức khoẻ chúng ta.
Có
thể nói rằng mọi vấn đề về môi trường đều bắt nguồn
từ phát triển. Nhưng con người cũng như tất cả mọi
sinh vật khác không thể đ́nh chỉ tiến hoá và ngừng
sự phát triển của ḿnh. Con đường để giải quyết mâu
thuẫn giữa môi trường và phát triển là phải chấp
nhận phát triển, nhưng giữ sao cho phát triển không
tác động một cách tiêu cực tới môi trường. Do đó,
năm 1987 Uỷ ban Môi trường và Phát triển của Liên
Hợp Quốc đă đưa ra khái niệm Phát triển bền vững:
"Phát
triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả măn các
nhu cầu hiện tại của con người nhưng không tổn hại
tới sự thoả măn các nhu cầu của thế hệ tương lai".
Để
xây dựng một xă hội phát triển bền vững, Chương
tŕnh Môi trường Liên Hợp Quốc đă đề ra 9 nguyên
tắc:
Tôn trọng và
quan tâm đến cuộc sống cộng đồng.
Cải thiện
chất lượng cuộc sống của con người.
Bảo vệ sức
sống và tính đa dạng của Trái đất.
Quản lư những
nguồn tài nguyên không tái tạo được.
Tôn trọng khả
năng chịu đựng được của Trái đất.
Thay đổi tập
tục và thói quen cá nhân.
Để cho các
cộng đồng tự quản lư môi trường của ḿnh.
Tạo ra một
khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho
việc phát triển và bảo vệ.
Năm 1991, đă xuất hiện khái niệm về Du lịch sinh
thái. "Du lịch sinh thái là loại h́nh du lịch diễn
ra trong các vùng có hệ sinh thái tự nhiên c̣n bảo
tồn khá tốt nhằm mục tiêu nghiên cứu, chiêm ngưỡng,
thưởng thức phong cảnh, động thực vật cũng như các
giá trị văn hoá hiện hữu" (Boo, 1991).
Nhưng gần đây, người ta cho rằng nội dung căn bản
của Du lịch sinh thái là tập trung vào mức độ
trách nhiệm của con người đối với môi
trường. Quan điểm thụ động cho rằng Du lịch sinh
thái là du lịch hạn chế tối đa các suy thoái môi
trường do du lịch tạo ra, là sự ngăn ngừa các tác
động tiêu cực lên sinh thái, văn hoá và thẩm mỹ.
Quan điểm chủ động cho rằng Du lịch sinh thái c̣n
phải đóng góp vào quản lư bền vững môi trường lănh
thổ du lịch và phải quan tâm đến quyền lợi của nhân
dân địa phương. Do đó, người ta đă đưa ra một khái
niệm mới tương đối đầy đủ hơn:
"Du
lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm với các khu
thiên nhiên là nơi bảo tồn môi trường và cải thiện
phúc lợi cho nhân dân địa phương".
"Du
lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại
của du khách và vùng dùng du lịch mà vẫn bảo đảm
những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ tương
lai".
Du
lịch bền vững đ̣i hỏi phải quản lư tất cả các dạng
tài nguyên theo cách nào đó để chúng ta có thể đáp
ứng các nhu cầu kinh tế, xă hội và thẩm mỹ trong khi
vẫn duy tŕ được bản sắc văn hoá, các quá tŕnh sinh
thái cơ bản, đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự
sống.
Khí quyển là lớp vỏ ngoài của trái đất với ranh giới
dưới là bề mặt thuỷ quyển, thạch quyển và ranh giới
trên là khoảng không giữa các hành tinh. Khí quyển
trái đất được h́nh thành do sự thoát hơi nước, các
chất khí từ thuỷ quyển và thạch quyển.
Thời kỳ đầu, khí quyển chủ yếu gồm hơi nước,
amoniac, metan, các loại khí trơ và hydro. Dưới tác
dụng phân huỷ của tia sáng mặt trời hơi nước bị phân
huỷ thành oxy và hydro. Oxy tạo ra tác động với
amoniac và metan tạo ra khí nitơ và cácboníc. Quá
tŕnh tiếp diễn, một lượng hidro nhẹ mất vào khoảng
không vũ trụ, khí quyển c̣n lại chủ yếu là hơi nước,
nitơ, cácboníc, một ít oxy. Thực vật xuất hiện trên
trái đất cùng với quá tŕnh quang hợp đă tạo nên một
lượng lớn oxy và làm giảm đáng kể nồng độ CO2
trong khí quyển. Sự phát triển mạnh mẽ của động thực
vật trên trái đất cùng với sự gia tăng bài tiết,
phân huỷ xác chết động thực vật, phân huỷ yếm khí
của vi sinh vật đă làm cho nồng độ khí N2
trong khí quyển tăng lên nhanh chóng, để đạt tới
thành phần khí quyển hiện nay.
Cấu trúc tầng của khí quyển được h́nh thành do kết
quả của lực hấp dẫn và nguồn phát sinh khí từ bề mặt
trái đất, có tác động to lớn trong việc bảo vệ và
duy tŕ sự sống trái đất.
Thành phần khí quyển trái đất khá ổn định theo
phương nằm ngang và phân dị theo phương thẳng đứng.
Phần lớn khối lượng 5.1015 tấn của toàn
bộ khí quyển tập trung ở tầng đối lưu và b́nh lưu.
Thành phần khí quyển trái đất gồm chủ yếu là Nitơ,
Oxy, hơi nước, CO2, H2, O3,
NH4, các khí trơ.
Trong tầng đối lưu, thành phần các chất khí chủ yếu
tương đối ổn định, nhưng nồng độ CO2 và
hơi nước dao động mạnh. Lượng hơi nước thay đổi theo
thời tiết khí hậu, từ 4% thể tích vào mùa nóng ẩm
tới 0,4 % khi mùa khô lạnh. Trong không khí tầng đối
lưu thường có một lượng nhất định khí SO2
và bụi.
Trong tầng b́nh lưu luôn tồn tại một quá tŕnh h́nh
thành và phá huỷ khí ozon, dẫn tới việc xuất hiện
một lớp ozon mỏng với chiều dày trong điều kiện mật
độ không khí b́nh thường khoảng vài chục xăngtimet.
Lớp khí này có tác dụng ngăn các tia tử ngoại chiếu
xuống bề mặt trái đất. Hiện nay, do hoạt động của
con người, lớp khí ozon có xu hưởng mỏng dần, có thể
đe doạ tới sự sống của con người và sinh vật trên
trái đất.
Nhiệt độ bề mặt trái đất được tạo nên do sự cân bằng
giữa năng lượng mặt trời đến bề mặt trái đất và năng
lượng bức xạ của trái đất vào khoảng không gian giữa
các hành tinh. Năng lượng mặt trời chủ yếu là các
tia sóng ngắn dễ dàng xuyên qua cửa sổ khí quyển.
Trong khi đó, bức xạ của trái đất với nhiệt độ bề
mặt trung b́nh +16oC là sóng dài có năng
lượng thấp, dễ dàng bị khí quyển giữ lại. Các tác
nhân gây ra sự hấp thụ bức xạ sóng dài trong khí
quyển là khí CO2, bụi, hơi nước, khí
mêtan, khí CFC v.v...